Tìm kiếm Blog này

Chủ Nhật, 12 tháng 8, 2012

Hoàn thành nghĩa vụ


Khi thầy trò tụ họp ở miền Ga-li-lê, Đức Giê-su nói với các ông: "Con Người sắp bị nộp vào tay người đời, họ sẽ giết chết Người, và ngày thứ ba Người sẽ trỗi dậy." Các môn đệ buồn phiền lắm.
Khi thầy trò tới Ca-phác-na-um, thì những người thu thuế cho đền thờ đến hỏi ông Phê-rô: "Thầy các ông không nộp thuế sao? " Ông đáp: "Có chứ! " Ông về tới nhà, Đức Giê-su hỏi đón ông: "Anh Si-môn, anh nghĩ sao? Vua chúa trần gian bắt ai đóng sưu nộp thuế? Con cái mình hay người ngoài? " Ông Phê-rô đáp: "Thưa, người ngoài." Đức Giê-su liền bảo: "Vậy thì con cái được miễn. Nhưng để khỏi làm gai mắt họ, anh ra biển thả câu; con cá nào câu được trước hết, thì bắt lấy, mở miệng nó ra: anh sẽ thấy một đồng tiền bốn quan; anh lấy đồng tiền ấy, nộp thuế cho họ, phần của Thầy và phần của anh."  (Mt 17, 22-27)
 
Thánh Pontian và Thánh Hippolytus 
Vào năm 235, Maximinus làm hoàng đế Rôma và hầu như ngay sau khi lên ngôi, ông bắt đầu bách hại người Kitô Giáo. Một trong những hình phạt thông thường đối với các giám mục và linh mục là các ngài bị lưu đầy đến những quặng mỏ nguy hiểm ở Sardinia, nước Ý. Chính vì sự bách hại này mà ngày nay chúng ta mừng kính hai thánh tử đạo.

Thánh Pontian lên ngôi giáo hoàng sau khi Ðức Urban I từ trần năm 230. Khi Maximinus lên ngôi hoàng đế, Ðức Pontian cùng chung số phận với các Kitô Hữu khác và ngài phục vụ Giáo Hội trong sự đau khổ ở Sardinia.

Hippolytus là một linh mục và là học giả ở Rôma. Ngài có nhiều sáng tác về thần học và là bậc thầy tài giỏi. Hippolytus thất vọng với Ðức Giáo Hoàng Zephyrinus (được tử đạo năm 217) vì đức giáo hoàng không mau mắn ngăn chặn những người giảng dạy cách lầm lạc. Khi Ðức Callistus I được bầu làm giáo hoàng kế vị Ðức Zephyrinus, Hippolytus cũng không hài lòng. Lúc bấy giờ, rất đông người theo Hyppolytus và họ đồng lòng bầu Hippolytus lên làm giáo hoàng. Vị thần học gia tài giỏi này đã không chế ngự được tính kiêu ngạo và đã chấp nhận. Khi cuộc bách hại bùng nổ, Hyppolytus bị bắt và cũng bị lưu đầy đến Sardinia.

Trong hoàn cảnh đáng thương ấy, một phép lạ hòa giải đã xảy ra giữa sự cười nhạo của kẻ thù. Ðức giáo hoàng Pontian gặp gỡ với Hippolytus trong hoàn cảnh lưu đầy và vị linh mục tài giỏi này đã cảm hóa trước sự khiêm tốn của vị giáo hoàng. Hippolytus trở về với Giáo Hội và mọi tức giận đều tiêu tan. Ðức giáo hoàng Pontian thông cảm với vị linh mục. Ngài nhận ra nhu cầu của mỗi người là phải giúp đỡ và khuyến khích lẫn nhau trong tình bác ái của Ðức Giêsu Kitô. Cả hai đã được phúc tử đạo và mãi mãi trở nên nhân chứng cho sự tha thứ và niềm hy vọng Kitô Giáo.

Read more: http://nhacthanh.net/diendan/showthread.php?t=17555&page=2#ixzz23Lo6udZg

Chính là thịt tôi đây






Người Do-thái liền xầm xì phản đối, bởi vì Đức Giê-su đã nói: "Tôi là bánh từ trời xuống." Họ nói: "Ông này chẳng phải là ông Giê-su, con ông Giu-se đó sao? Cha mẹ ông ta, chúng ta đều biết cả, sao bây giờ ông ta lại nói: "Tôi từ trời xuống? " Đức Giê-su bảo họ: "Các ông đừng có xầm xì với nhau! Chẳng ai đến với tôi được, nếu Chúa Cha là Đấng đã sai tôi, không lôi kéo người ấy, và tôi, tôi sẽ cho người ấy sống lại trong ngày sau hết. Xưa có lời chép trong sách các ngôn sứ: Hết mọi người sẽ được Thiên Chúa dạy dỗ. Vậy phàm ai nghe và đón nhận giáo huấn của Chúa Cha, thì sẽ đến với tôi. Không phải là đã có ai thấy Chúa Cha đâu, nhưng chỉ có Đấng từ nơi Thiên Chúa mà đến, chính Đấng ấy đã thấy Chúa Cha. Thật, tôi bảo thật các ông, ai tin thì được sự sống đời đời. Tôi là bánh trường sinh. Tổ tiên các ông đã ăn man-na trong sa mạc, nhưng đã chết. Còn bánh này là bánh từ trời xuống, để ai ăn thì khỏi phải chết. Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời. Và bánh tôi sẽ ban tặng, chính là thịt tôi đây, để cho thế gian được sống." (Ga 6,45-51)
 
Đức Giêsu chính là Ngôi Lời nhập thể của Thiên Chúa, để dân chúng tin và được cứu độ. Khi nói “Bánh từ trời xuống”, Đức Giêsu muốn mặc khải toàn bộ con người  cụ thể của Người, gồm nhân tính và thiên tính, tức là thịt và máu cùng với bản tính Thiên Chúa của Đức Giêsu, cũng như gốc gác của Người là từ trời, tức là từ Chúa Cha mà đến, và chính Người là Đấng Mêsia mà dân chúng đang mong đợi.
Đức tin là ân ban của Thiên Chúa và sự đáp trả của con người. Chỉ những ai được Thiên Chúa ban ơn mới có thể hiểu được mầu nhiệm cao siêu của Người. Chỉ có Thiên Chúa dậy dỗ con người mới hiểu được. Chính Thiên Chúa lôi kéo con người về phía Người, con người mới có thể nhận biết và tin vào Thiên Chúa. Đức tin tuy là ân ban của Thiên Chúa, nhưng con người cũng cần phải cộng tác với ân ban của Chúa để được đón nhận đức tin.
Khi nói “Bánh tôi sẽ ban tặng, chính là thịt tôi đây, để cho thế gian được sống", Đức Giêsu muốn nêu bật giá trị cái chết của Người trên thập giá, bởi vì chính lúc trên thập giá là lúc Đức Giêsu trao ban trọn vẹn bánh hằng sống của Người cho chúng ta. Nhưng đồng thời “Tôi là bánh từ trời” cũng chính là Lời Chúa, Đức Giêsu là Lời của Chúa Cha. Lời Chúa là Bánh Hằng Sống. Vì thế, khi chúng ta đón nhận Lời chúa, cũng là lúc chúng ta đón nhận “Bánh từ trời”, “Bánh hằng sống”.
Lạy Chúa Giêsu, conngười ngày nay thường khó chấp nhận những gì họ không kiểm chứng được, vì thế họ bám chặt vào của cải trần thế hơn. Xin ban cho chúng con một đức tin vững vàng để trong mọi hoàn cảnh, chúng con biết bám vào “Bánh hằng sống” hơn là lệ thuộc của cải trần gian. Amen.
      (Theo Học viện Đa Minh)

BỮA ĂN CHIỀU CUỐI CÙNG  

Leonardo da Vinci vẽ bức "Bữa ăn chiều cuối cùng" (The last supper) mất bảy năm liền. Đó là bức tranh vẽ Chúa Jesus và mười hai vị tông đồ trong bữa ăn cuối cùng trước khi Chúa bị Judas phản bội. 
Leonardo tìm người mẫu rất công phu. Giữa hàng ngàn thanh niên, ông chọn được một chàng trai 19 tuổi có gương mặt thánh thiện, một nhân cách tinh khiết tuyệt đối để làm mẫu vẽ Chúa Jesus. Da Vinci làm việc không mệt mỏi suốt sáu tháng trước chàng trai, và hình ảnh Chúa Jesus được hiện trên bức vẽ.  
Sáu năm tiếp theo ông lần lượt vẽ xong 12 vị tông đồ, chỉ còn có Judas, vị môn đồ đã phản bội Chúa vì 30 đồng bạc, tương đương 16.96 đô la Mỹ.  
Hoạ sĩ muốn tìm một người đàn ông có khuôn mặt hằn lên sự hám lợi, lừa lọc, đạo đức giả và cực kỳ tàn ác. Khuôn mặt đó phải toát lên tính cách của kẻ sẵn sàng bán đứng người bạn thân nhất, người thầy kính yêu nhất của chính mình... Cuộc tìm kiếm dường như vô vọng. Bao nhiêu gương mặt xấu xa nhất, độc ác nhất, Vinci đều thấy rằng chưa đủ để bộ lộ cái ác của Judas. Một hôm, Vinci được thông báo rằng có một kẻ mà ngoại hình có thể đáp ứng được yêu cầu của ông. Hắn đang ở trong một hầm ngục ở Roma, bị kết án tử hình vì giết người và phạm rất nhiều tội ác tày trời khác.  

Da Vinci lập tức lên đường đến Roma. Trước mắt ông là một gã đàn ông nước da đen sậm với mái tóc dài bẩn thỉu phủ xoà xuống mặt, một khuôn mặt xấu xa, độc ác tự nó nói lên nhân cách của một kẻ hoàn toàn bị tha hoá. Đúng, đây là Judas!  Được sự cho phép đặc biệt của Đức Vua, người tù được đưa tới Milan nơi bức tranh đang được vẽ dở. Mỗi ngày, tên tù im lặng ngồi trước Da Vinci và hoạ sĩ thiên tài cần mẫn với công viêc truyền tải vào bức tranh diện mạo của kẻ phản phúc.  
Khi nét vẽ cuối cùng hoàn thành, kiệt sức vì phải đối mặt với cái ác một thời gian dài, Vinci quay sang bảo lính gác "Các ngươi đem hắn đi đi...". Lính canh túm lấy kẻ tử tù, nhưng hắn đột nhiên vùng ra và lao đến quì xuống bên chân Da Vanci, khóc nấc lên: "Ôi, ngài Da Vinci! Hãy nhìn con! Ngài không nhận ra con ư?"  
Da Vinci quan sát kẻ mà suốt sáu tháng qua ông đã liên tục nhìn mặt. Cuối cùng ông đáp: "Không, ta chưa từng nhìn thấy ngươi cho đến khi ngươi được đưa đến cho ta từ hầm ngục ở Roma...". Tên tử tù kêu lên "Ngài Vinci... Hãy nhìn kỹ lại tôi! Tôi chính là người mà bảy năm trước ông đã chọn làm mẫu để vẽ Chúa Jesus..."
Câu chuyện này có thật, như bức tranh "Bữa ăn chiều cuối cùng" là có thật. Chàng trai đã từng được chọn làm hình mẫu của Chúa Jesus chỉ sau hơn hai ngàn ngày, đã tự biến mình thành hình tượng hoàn hảo của kẻ phản bội ghê gớm nhất trong lịch sử.  
Tương lai không hề được định trước. Chính chúng ta là người quyết định số phận của chính mình.





Ngày nay, cái ăn vẫn là nhu cầu của con người, nhưng người ta đã lợi dụng nó...

10 món ăn hàng hiệu đắt đỏ bậc nhất

 
Saffron
Đây được coi là loại gia vị quý hiếm và đắt giá bậc nhất. Saffron được lấy từ nhuỵ loài hoa nghệ tây trồng ở Morocco và Iran. Sở dĩ saffron quý hơn vàng là bởi loài hoa nghệ tây này chỉ nở trong một thời gian rất ngắn, cuối tháng 10 và đầu tháng 11.
Việc thu hoạch nó cũng rất kì công. Người ta phải hái nó khi có ánh nắng mặt trời, tất nhiên, phải hái bằng tay, thật nhẹ rồi ngắt nhuỵ hoa có hình dạng giống như sợi dây nhưng lại phải hạn chế ánh nắng chiếu vào để không mất đi hương thơm. Sau đó, nhuỵ hoa sẽ được đem đi phơi nhưng chỉ phơi để nhuỵ có một độ khô nhất định nào đó, nếu không vị đắng đặc trưng của saffron sẽ không còn.
Saffron kì công đến mức, để có 1kg Saffron cần không dưới 200.000 bông hoa. Và có lẽ bởi vậy mà nó có cái giá rất chát, $3.000-6.000/1kg.

Dưa hấu Dansuke
Giống dưa hấu này từng lập kỉ lục với giá $6.100 cho một quả nặng 7kg. Theo giới ẩm thực đánh giá thì giống dưa hấu đen này có một độ ngọt và giòn cùng hương vị hơn hẳn mọi giống dưa hấu khác. Dansuke chỉ được trồng trên hòn hảo Hokkaido, ở miền bắc Nhật Bản và chỉ thổ nhưỡng của hòn đảo này mới mang lại hương vị hảo hạng cho Dansuke. Dansuke quý hiếm cũng một phần vì mỗi vụ thu hoạch chỉ chừng 65 quả.

Dưa vàng Yubari
Giống dưa vàng này được trồng ở Yubari, vẫn trên hòn đảo Hokkaido của Nhật Bản. Năm 2008, Yubari đã được bán với giá cao ngất ngưởng $26.000. Theo giới sành ăn thì chính đặc tính thổ nhưỡng và những lớp tro từ núi lửa phun trào đã mang đến cho vùng đất này những ưu đãi đặc biệt. Nhờ đó, dưa có một vị ngọt, thơm mà không một vùng đất nào sánh được.

Nấm Matsutake
Nhắc đến Matsutake, giới ẩm thực vẫn tấm tắc ngợi ca nó như vua của hương vị mùa thu hay vua của các loài nấm. Sở dĩ vậy là bởi loài nấm này chỉ có ở mùa thu và ngày càng quý hiếm. Matsutake cũng là một trong những loài nấm không thể trồng nhân tạo. Nó chỉ mọc ở khu rừng có nhiều cây tùng. Thú vị ở chỗ, cây tùng nào tốt thì nấm mọc rất ít. Và khi cây nấm đã được hái, chính tại chỗ đó sẽ không bao giờ mọc thêm một cây nấm khác. Matsutake có giá chừng $1.000/kg.

Chocopologie by Knipschildt
Loại chocolate đắt nhất thế giới này được làm bởi Chocopologie by Knipschildt. Nó có giá $2.600/pound và được làm hoàn toàn thủ công. Chứa 70% cacao Valrhona và nấm đen, Chocopologie by Knipschildt chỉ sản xuất theo đơn đặt hàng. Bí quyết của loại chocolate đắt nhất thế giới này được phát hiện bởi Fritz Knipchildt, một tay thợ làm chocolate nức tiếng của Đan Mạch. Sau đó, Fritz Knipchildt chuyển đến Anh và thành lập nhãn hiệu chocolate xa xỉ này năm 1996.

Thịt bò Kobe
Một cái tên quá quen thuộc nhưng luôn được nhắc đến trong bảng danh sách những món ăn đắt nhất thế giới. Thịt bò Kobe là sản phẩm của giống bò Wagyu nổi tiếng của Nhật Bản. Việc chăn nuôi nó là cả một câu chuyện hay ho và thú vị. Nó được cưng phụng hệt các ông hoàng, chăn nuôi bằng bia thậm chí massage và nghe nhạc Mozart, Beethoven... Việc chăm sóc khắt khe này bắt đầu ngay khi chúng vừa lọt lòng. Theo người dân ở đây cho biết, thịt bò sẽ ngon khi chúng được hạnh phúc. Đấy cũng là lý do vì sao một kg thịt bò Kobe loại đặc biệt có mức giá không dưới $1.000.

Trứng cá muối Almas
Trong tiếng Iran Almas có nghĩa là kim cương. Đấy là lý do vì sao trứng cá muối Almas được mệnh danh là ông vua trên bàn tiệc và vua của các món ăn quý tộc. Điều đó không có gì lạ bởi món ăn này có nguyên liệu chính từ những con cá tầm trắng có tuổi thọ hơn trăm tuổi. Thông thường, món ăn này có giá $8.400-15.500. Còn những sản phẩm đặc biệt của The Caviar House and Punier với hộp bằng vàng và người mua phải chờ đến ...4 năm có giá tới $25.000.

Nấm trắng Truffle
Loài nấm quý tộc này từng lập một kỉ lục khiến ngay cả những người sành sỏi nhất cũng phải ngỡ ngàng $330.000 cho một cây nấm. Tuy nhiên, giá nấm Truffle thông thường dao động từ $1.360-$4.200. Loại nấm này chỉ mọc ở Italia và Croatia.

Súp yến
Được ví như "trứng cá muối của phương Đông", món ăn này tồn tại ở Trung Hoa không dưới 400 năm. Theo giới ẩm thực, súp yến hảo hạng nhất phải từ những tổ yến ở miền Nam Trung Quốc. Đây cũng là một trong những món cao lương mĩ vị vừa có chất dinh dưỡng, vừa có khả năng chữa bệnh, làm đẹp da. Giá: $910-$4.535.


Foie Gras
Được ca tụng như một tinh hoa của ẩm thực Pháp, để có một kg gan ngỗng béo đòi hỏi phải rất kì công. Người ta phải kĩ càng từ khâu chọn giống đến khi lấy gan chế biến món ăn. Ngỗng phải tuân thủ một chế độ chăn nuôi nghiêm ngặt, đặc biệt là giai đoạn cho ăn vỗ béo trong hai tuần vào tháng thứ ba. Gan ngỗng nổi tiếng nhất được sản xuất ở vùng Périgord, tây nam nước Pháp.

(Theo sanhdieu)


Thứ Bảy, 11 tháng 8, 2012

Hãy vững lòng tin


Bấy giờ các môn đệ đến gần hỏi riêng Đức Giê-su rằng: "Tại sao chúng con đây lại không trừ nổi tên quỷ ấy? " Người nói với các ông: "Tại anh em kém tin! Thầy bảo thật anh em: nếu anh em có lòng tin lớn bằng hạt cải thôi, thì dù anh em có bảo núi này: "rời khỏi đây, qua bên kia! " nó cũng sẽ qua, và sẽ chẳng có gì mà anh em không làm được.

Thánh CLARA  - Trinh Nữ (1193 - 1253)
Thánh Clara sinh năm 1193 tại Assisi miền Umbria. Thuộc dòng họ danh gái Offreducciô. Người ta nói thánh nữ sinh ra với nụ cười trên môi và không bao giờ thấy Ngài khóc. Ngài dành nước mắt để tưới chân Chúa Giêsu chịu đóng dinh. Nghe biết một thanh niên giàu có đã trở nên người nghèo thành Assisi, người thiếu nữ danh giá cảm kích trước mẫu gương của thánh nhân. Trong khi gia đình nhắm cưới gả cho nàng, thì nàng chỉ nhắm đến cuộc sống sám hối khiêm hạ. Sau khi nghe bài giảng của thánh nhân, Ngài đã đi tới quyết định.
Khi ấy thánh Clara 18 tuổi. Vào ngày Lễ Lá, 18 tháng 3 năm 1212, thánh nữ ăn mặc sang trọng tới nhà thờ chính tòa dự lễ. Theo thói quen, các bà tiến lên nhận lá từ tay Đức giám mục. Hôm ấy Clara quá xúc động, khiến chính đức giám mục phải rồi ghế đưa lá đến cho Ngài. Chiều về, Ngài đã cùng với một người bạn lén bỏ nhà theo lối cửa hậu rồi theo ánh đuốc tới gặp thánh Phanxicô tại Porsiuncola...
Giai thoại thật cảm động, một cô gái 18 sang trọng đã bỏ tất cả những gì là quen thuộc và an toàn để đi theo Đấng vô hình, còn Phaxicô 30 tuổi không có lấy một xu dính túi đã nhận lấy trách nhiệm về cả tinh thần lẫn vật chất đối với cô. Giữa đêm xuân trong rừng cây và dưới ánh đuốc của đoàn anh em. Clara buông xõa mái tóc huyền trên bàn thờ cho Phanxicô cắt bỏ. Hành động hoàn toàn ngoại lệ và không với một chút quyền hạn theo giáo luật. Phanxicô đã lãnh bản ly dị của Clara đối với thế gian, rồi gởi đi vào một nữ tu viện Benedicto gần đó.
Biến cố nổ lớn làm cả thành phố xúc động. Thế gian kết án Clara. Ong Monaldo, cậu thánh nữ đến nhà dòng bắt thánh nữ về, nhưng Ngài ôm cứng chân bàn thờ quyết chọn Chúa mà thôi. Phanxicô dẫn thánh nữ tới một nữ tu tu viện Bênêdictô khác, cùng với em của mình là Anê. Sau cùng Phanxicô thiết lập cho Clara và cộng đoàn đã tăng số một tu viện tại San Damianô, nơi đây bà Ortolanta, mẹ của thánh nữ cũng nhập dòng. Trong một thời gian cộng đoàn độc lập như những người hành khất đầu tiên. Phanxicô viết cho cộng đoàn một bản luật sống vắn gọn, đòi kỷ luật gắt gao và chay tịnh khắc khổ.
Dầu vậy, Clara con người đi xa hơn cả ước muốn của thánh Phanxicô. Năm 1215 Phanxicô đặt Clara làm tu viện trưởng và có lẽ đã trao cho Ngài một bản luật dòng thánh Bênêdictô. Nhưng một mục chương nói rằng sự đơn sơ và nhiệt tình của chị em khiến cộng đoàn tăng số rất nhanh.
Vào những năm cuối đời thánh Phanxicô, mọi liên hệ với San Đômianô bị gián đoạn. Câu chuyện hay về bữa ăn tối với Clara không được chính xác lắm. Nhưng cơn đau cuối cùng Phanxicô đã được Clara cho trú ngụ trong một mái chòi bằng lá cây ở cổng tu viện Damianô, nơi Phaxicô trước tác bài ca mặt trời. Ngài ban phép lành cuối cho Clara rồi về Porziuncola và qua đời tại đó. Ngài cũng xin anh em đưa xác về Assisi qua ngã San Đamianô. Thánh Clara và chị em tiếp rước và có dịp chiêm ngưỡng các vết thương ở tay và chân Ngài.
Clara thực hiện đúng lý tưởng của người nghèo thành Assisi. Đức Innôcentê III đã đích thân ban phép cho Ngài được giữ đức nghèo khó tuyệt đối. Nhưng Đức Grêgôriô IX nguyên là hồng y Ugôlinô đã muốn cải sửa luật cho phép nhà dòng có đất đai nhà cửa. Clara cưỡng lại và năm 1228 đã được hưởng đặc ân như sở nguyện. Ngài đã thưa với Đức Grêgôriô: - Thưa Đức Cha, xin tha tội cho chúng con, nhưng đừng tha cho con khỏi theo lời Chúa.
Năm 1247, một lần nữa đức Innocentê IV kiểm soát lại luật thánh Phanxicô, muốn sống đời khó nghèo truyệt đối. Luật này được Đức Innocente chấp thuận vội vã, hai ngày trước khi thánh nữ qua đời. Năm 1893 người ta tìm thấy sắc chỉ nguyên thủy trong mộ thánh nữ.
Cuộc sống còn được ghi nhớ bởi cuộc tàn phá năm 1241 của vua Frêdêrico II, nhờ lời cầu nguyện đắc lực của Ngài. Trong cơn bệnh của Ngài, Đức hồng y Rainalđô, tức là đức giáo hoàng Alexandrô sau này, đã đến trao mình Chúa và khuyyên nhủ thánh nữ, thánh nữ trả lời: - Từ khi nếm thử chén đắng và cuộc tử nạn của Chúa, con thấy không còn gì làm con đau đớn nữa.
Sau khi chúc lành cho các nữ tu đến thăm, Ngài nói với mình: - Hãy an tâm, ngươi đã theo đúng đường, cứ tin tưởng vì Chúa tạo thành đã thánh hiến và không ngừng gìn giữ ngươi, đã yêu ngươi với tình mẹ thương con, ôi lạy Chúa xin chúc tụng Chúa vì đã dựng nên con.
Thánh nữ qua đời ngày 11 tháng năm 1253 và năm 1255 được suy tôn hiển thánh.

Thứ Sáu, 10 tháng 8, 2012

THÁNH LÔRENXÔ, PHÓ TẾ, TỬ ĐẠO.


Thật, Thầy bảo thật anh em, nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác. Ai yêu quý mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai coi thường mạng sống mình ở đời này, thì sẽ giữ lại được cho sự sống đời đời. Ai phục vụ Thầy, thì hãy theo Thầy; và Thầy ở đâu, kẻ phục vụ Thầy cũng sẽ ở đó. Ai phục vụ Thầy, Cha của Thầy sẽ quý trọng người ấy." (Ga 12,24-26)
Thánh Laurensô sinh tại Huescô nước Tây Ban Nha. Cha mẹ Ngài là những người đạo hạnh. Ngài sớm từ biệt quê hương thân yêu để đi du học bên Roma và đã sống trót cuộc đời trần thế tại đây. Ngài được chọn thành một trong bảy phó tế của giáo hội chịu trách nhiệm giúp đỡ người nghèo túng và Ngài được giao cho trách nhiệm "quản lý tài sản của Giáo hội". Khi sự cấm đạo dưới thời Hoàng đế Valerian bùng nổ, Thánh Giáo Hoàng Sixtus bị kết án tử hình cùng với sáu phó tế khác. Khi Đức Giáo hoàng bị điệu ra pháp trường, Laurensô đi theo khóc lóc nức nở, Ngài hỏi "Cha ơi, cha đi đâu mà không cho nô bộc này theo?" Ðức Giáo hoàng trả lời, "Con ơi, ta không bỏ con đâu. Trong ba ngày nữa, con sẽ theo ta." Nghe thấy thế, Laurensô thật vui mừng, Ngài về phân phát hết tiền của trong kho cho người nghèo, và còn bán cả các phẩm phục đắt tiền để có thêm của cải mà phân phát.
Khi những điều này tới tai Hoàng đế Đêciô, ông truyền bắt giam Laurensô. Thánh nhân cải hóa được viên gác ngục Hippolytô. Bị điệu tới trước viên tổng trấn Valrianô, Ngài được lệnh phải nhượng lại các tài sản của Giáo hội. Được dành cho ba ngày để thâu thập của cải, Ngài đã mang tất cả tài sản phân phát cho kẻ nghèo. Hết hạn Ngài dẫn họ tới trình với tổng trấn Valrianô, như là tài sản của Giáo hội. Viên tổng trấn nổi giận, buộc thánh nhân phải dâng lễ tiến các thần minh. Từ khước, thánh nhân phải chịu mọi cực hình, bị nướng trên sắt nung đỏ. Trên giường chết lạ lùng này, Ngài còn khôi hài nói với hoàng đế:
- Một bên đã chín rồi hãy chiên bên kia nữa mà ăn.
Sau đó ngài cầu xin cho thành phố Rôma được trở lại với Ðức Kitô và cho Ðức Tin Công Giáo được lan tràn khắp thế giới. Ngài lãnh nhận triều thiên tử đạo vào năm 158.

Thánh Laurensô đã một lòng vì Chúa, vì Giáo Hội, hết lòng yêu thương người nghèo. Xin cho mỗi chúng ta cũng có được tâm tình và lòng quảng đại như thánh nhân. Trung kiên làm chứng cho Chúa dù phải chịu thiệt thòi về phần xác.



Thứ Tư, 8 tháng 8, 2012

Hãy vững lòng tin


Ra khỏi đó, Đức Giê-su lui về miền Tia và Xi-đôn, thì này có một người đàn bà Ca-na-an, ở miền ấy đi ra, kêu lên rằng: "Lạy Ngài là con vua Đa-vít, xin dủ lòng thương tôi! Đứa con gái tôi bị quỷ ám khổ sở lắm! " Nhưng Người không đáp lại một lời.

Người đáp: "Thầy chỉ được sai đến với những con chiên lạc của nhà Ít-ra-en mà thôi." Bà ấy đến bái lạy mà thưa Người rằng: "Lạy Ngài, xin cứu giúp tôi! " Người đáp: "Không nên lấy bánh dành cho con cái mà ném cho lũ chó con." Bà ấy nói: "Thưa Ngài, đúng thế, nhưng mà lũ chó con cũng được ăn những mảnh vụn trên bàn chủ rơi xuống." Bấy giờ Đức Giê-su đáp: "Này bà, lòng tin của bà mạnh thật. Bà muốn sao thì sẽ được vậy." Từ giờ đó, con gái bà được khỏi.
 (Mt 15.21-28)

Con Thiên Chúa hằng sống


Đức Giê-su lại hỏi: "Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai? " Ông Si-môn Phê-rô thưa: "Thầy là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa hằng sống." (Mt 16,15-16)




Thứ Ba, 7 tháng 8, 2012

Vững tin nơi Thiên Chúa


Vào khoảng canh tư, Người đi trên mặt biển mà đến với các môn đệ. Thấy Người đi trên mặt biển, các ông hoảng hốt bảo nhau: "Ma đấy! ", và sợ hãi la lên. Đức Giê-su liền bảo các ông: "Cứ yên tâm, chính Thầy đây, đừng sợ! " Ông Phê-rô liền thưa với Người: "Thưa Ngài, nếu quả là Ngài, thì xin truyền cho con đi trên mặt nước mà đến với Ngài." Đức Giê-su bảo ông: "Cứ đến! " Ông Phê-rô từ thuyền bước xuống, đi trên mặt nước, và đến với Đức Giê-su. Nhưng thấy gió thổi thì ông đâm sợ, và khi bắt đầu chìm, ông la lên: "Thưa Ngài, xin cứu con với! " Đức Giê-su liền đưa tay nắm lấy ông và nói: "Người đâu mà kém tin vậy! Sao lại hoài nghi? " Khi thầy trò đã lên thuyền, thì gió lặng ngay. Những kẻ ở trong thuyền bái lạy Người và nói: "Quả thật Ngài là Con Thiên Chúa! "  (Mt 14,25-33)
Hôm nay, thứ ba đầu tháng, 07/8/2012, các thành viên Gia Đình Mục Vụ Truyền Thông Sài Gòn quy tụ nhau tại nhà nguyện Trung Tâm Mục Vụ TGP HCM để dâng thánh lễ cầu nguyện cho tất cả các thành viên, ân nhân, và gia đình các thành viên còn sống hay đã qua đời.  Đây là một truyền thống tốt đẹp chúng ta cần phát huy.
Bài phúc âm hôm nay diễn tả trong đêm đen: Chúa Giêsu lên núi cầu nguyện một mình, các tông đồ đi ra biển trong sóng to gió lớn nên sợ hãi, Chúa Giêsu đi trên nước mà đến với các ông mà họ lại cứ tưởng là ma, ông Phêrô xuống nước đến với Chúa, do thiếu lòng tin nên bị chìm, nhưng Đức Giêsu nắm lấy tay ông để đỡ, nên ông không bị chìm, và các ông hân hoan vui sướng. Điều này cho ta thấy, trong bất cứ hoàn cảnh nào, Chúa luôn đồng hành với ta, nhưng trong ta có Chúa hay không?
Là thành viên truyền thông, chung chia sứ mạng loan báo Tin Mừng cho thời đại chúngta hôm nay, để làm được điều đó trong ta phải có Chúa,muốn co Chúa trong ta, trước khi ngồi vào máy tính, xem TV, hay làm một việc nào đó thì trước tiên ta phải cầu nguyện, nhờ sự cầu nguyện nên Chúa ở trong ta, không làm cho ta bị chìm vào thế giới ảo đầy cạm bẫy ở trong đó, và nhờ đó mỗi bài viết luôn có Chúa ở cùng.
Lạy Chúa Giêsu, con còn lười biếng, chưa cầu nguyện nhiều, xin Chúa cho con biết lắng nghe và suy niệm Lời Chúa, năng đến với Chúa nhiều hơn,  có Chúa ở trong con và con ở trong Chúa.

Thứ Hai, 6 tháng 8, 2012

Một người hai khuôn mặt


Bỗng có một đám mây bao phủ các ông. Và từ đám mây, có tiếng phán rằng: "Đây là Con Ta yêu dấu, hãy vâng nghe lời Người."
Ở trên núi xuống, Đức Giê-su truyền cho các ông không được kể lại cho ai nghe những điều vừa thấy, trước khi Con Người từ cõi chết sống lại.
                                   (Mc 9,7+9)
Suy niệm và cầu nguyện: 








“Hạm đội trắng” của Trung Quốc
05/08/2012 3:35
Ẩn dưới lớp sơn màu trắng, lực lượng tàu tuần tra có trang bị vũ khí được Trung Quốc triển khai phục vụ mưu đồ chiếm đoạt biển Đông.
Sáng nay, các đoàn tàu nằm trong số hơn 23.000 tàu cá Trung Quốc sẽ tiếp tục tràn vào biển Đông để tận lực khai thác tại khu vực này. Giới quan sát tin rằng lực lượng tàu tuần tra núp bóng dân sự của Trung Quốc sẽ tháp tùng hàng chục ngàn tàu cá trên. Đó là vì tàu tuần tra “dân sự” đang đóng vai trò quan trọng đối với việc Bắc Kinh sử dụng tàu cá để tiến hành âm mưu xâm phạm rầm rộ trên biển Đông.
Những biến thể của hải quân
Mới đây, tạp chí Jane’s Defence Weekly vừa đăng phân tích có tựa China’s other Navies (tạm dịch là Những lực lượng hải quân khác của Trung Quốc). Theo đó, Trung Quốc hiện phát triển 5 nhóm tàu tuần tra “dân sự” để hình thành nên “hạm đội trắng” bên cạnh những hạm đội của hải quân nước này. Đó là: hải giám, ngư chính, hải cảnh, hải tuần, hải quan.
Hải giám nằm dưới quyền của Cơ quan quản lý đại dương (CMS) thuộc Bộ Đất đai và tài nguyên Trung Quốc. Nhóm tàu này chủ yếu tập trung giám sát các hoạt động liên quan đến tài nguyên biển, đặc biệt là dầu mỏ, khí đốt. Hiện tại, CMS đang có khoảng 300 tàu, với 30 chiếc trên 1.000 tấn, cùng 10 máy bay và 4 trực thăng. Hồi tháng 5, tờ China Daily đưa tin Trung Quốc sẽ trang bị thêm 36 tàu hải giám, với hơn 20 chiếc trên 1.000 tấn, vào năm 2013. Đến năm 2015, Bắc Kinh sẽ bàn giao thêm 16 máy bay cho CMS. Ngoài ra, cơ quan này sắp nhận thêm 54 tàu cao tốc.
Ngư chính trực thuộc Cục Ngư chính của Bộ Nông nghiệp Trung Quốc. Theo Học viện Nghiên cứu quốc phòng quốc gia Nhật Bản (NIDS), Bắc Kinh hiện có khoảng 140 tàu ngư chính với 8 chiếc trên 1.000 tấn và đang từng bước trang bị vũ khí cho nhóm này. Sắp tới, Trung Quốc sẽ bổ sung thêm nhiều tàu ngư chính rất lớn khác, ví dụ như chiếc Ngư chính 88 trọng tải đến 15.000 tấn và được trang bị vũ khí.
Hải cảnh nằm dưới quyền kiểm soát của Bộ Công an Trung Quốc và khá bí mật về các thông tin như ngân sách, trang thiết bị. Theo Jane’s Defence Weekly, Hải cảnh Trung Quốc hiện có khoảng 10.000 nhân sự cùng 500 tàu. Như các lực lượng khác, hải cảnh cũng đang được Bắc Kinh tăng cường mạnh mẽ khí tài. Gần đây, Trung Quốc đã chuyển giao 2 tàu khu trục của hải quân để biên chế vào hải cảnh. Ngoài ra, nước này còn đang có nhiều dự án đóng mới và bổ sung tàu chiến cho lực lượng này.
Hải tuần được kiểm soát bởi Cơ quan quản lý an toàn hàng hải (MSA) của Bộ Giao thông Trung Quốc. Cuối tuần trước, Tân Hoa xã đưa tin Trung Quốc vừa hạ thủy “tàu tuần tra lớn nhất” là chiếc Hải tuần 01 trọng tải 5.400 tấn. Hiện tại, MSA đang có khoảng 200 tàu với hơn 20.000 nhân sự. Dưới bóng MSA, đội tàu hải tuần cũng được Trung Quốc sử dụng để tuần tra và kiểm tra những tàu di chuyển trên vùng biển mà nước này tuyên bố chủ quyền.
Hải quan trực thuộc Tổng cục Hải quan Trung Quốc và cũng được xem là một lực lượng bán vũ trang. Lực lượng này hiện sở hữu khoảng 200 tàu và trong đó có một số chiếc được trang bị vũ khí.

Tàu Ngư chính 44601 của Trung Quốc - Ảnh: gov.cn
Âm mưu lâu dài
Theo tạp chí Jane’s Defence Weekly, Trung Quốc đang ngày càng tăng cường khả năng hoạt động xa bờ cho “hạm đội trắng”. Điển hình như lực lượng tàu hải quan vốn dĩ hoạt động gần bờ nay cũng đang được bổ sung các tàu tầm xa. Sau khi tàu ngư chính, hải giám và hải tuần “bành trướng” trên biển Đông, lực lượng hải quan được cho là sẽ sớm ra khơi, núp bóng dưới chiêu bài “tuần tra ở vùng biển chủ quyền”. Xa hơn, Bắc Kinh có thể sáp nhập các nhóm tàu trên nằm dưới quyền quản lý của một cơ quan mới. Gần đây, thiếu tướng La Viện, Phó tổng thư ký Hội Khoa học quân sự Trung Quốc, tuyên bố Bắc Kinh có thể sớm thành lập Bộ Đại dương phụ trách kiểm soát hoạt động tại các vùng biển.
Theo đó, bộ này được lập ra trên cơ sở thống nhất 9 đơn vị hiện dưới quyền các cơ quan khác nhau như Bộ Nông nghiệp và Bộ Công an. Asahi Shimbun từng dẫn lời tướng La nói bên lề Hội nghị Chính hiệp Trung Quốc hồi tháng 3 rằng: “Liên kết nhiều cơ quan để tạo ảnh hưởng mạnh hơn và có nhiều tàu lớn hơn”. Giới quan sát nhận định cơ quan mới sẽ đóng vai trò then chốt trong việc “bảo hộ” những hoạt động đánh bắt, khai thác nguồn lợi trên biển tại những khu vực Bắc Kinh tuyên bố chủ quyền. Tất nhiên, biển Đông nằm trong số các khu vực này.
Vì thế, bài phân tích trên Jane’s Defence Weekly nhận định vụ căng thẳng giữa Trung Quốc với Philippines quanh bãi cạn Scarborough gần đây là cách để Bắc Kinh kiểm nghiệm khả năng ứng phó của “hạm đội trắng”. Theo đó, khi các tàu cá hay tàu dân sự của Trung Quốc “gặp khó”, Bắc Kinh sẽ sẵn sàng leo thang căng thẳng bằng cách từng bước điều động tàu được vũ trang từ thấp đến cao của “hạm đội trắng”. Bằng cách này, Trung Quốc có thể tránh tiếng là không “quân sự hóa” dù sức mạnh đe dọa chẳng kém gì việc triển khai tàu chiến. Về lâu dài, “hạm đội trắng” có thể thay thế hải quân thực hiện mưu đồ của Bắc Kinh trong việc bành trướng ở các vùng biển.
Tàu dân sự có vũ khí hạng nặng và trực thăng tấn công
Lâu nay, Trung Quốc vẫn nhiều lần tuyên bố các lực lượng tàu tuần tra như hải giám, ngư chính đơn thuần chỉ là “dân sự”. Tuy nhiên, thực tế cho thấy nước này đang từng bước quân sự hóa các lực lượng tàu trên. Hồi năm ngoái, Bắc Kinh thông qua kế hoạch chi hàng trăm triệu USD để sớm trang bị thêm 13 tàu bán vũ trang cho 5 nhóm tàu thuộc “hạm đội trắng”.
Gần đây, nhiều diễn đàn mạng của nước này trưng ra nhiều hình ảnh được cho là chụp lại những tàu ngư chính có trang bị súng cỡ nòng lớn. Điển hình như các tàu: Ngư chính 310, Ngư chính 311, Ngư chính 44601, Ngư chính 44602, Ngư chính 9102… và tàu hải giám.
Theo chuyên trang quốc phòng Sinodefence.com, một trong những tàu ngư chính lớn nhất của Bắc Kinh là Ngư chính 311 vốn được chuyển đổi từ tàu hải quân lớp Dalang. Trung Quốc còn phát triển các tàu ngư chính theo hướng sẵn sàng đáp ứng thêm nhiều khả năng tác chiến. Bằng chứng là tàu Ngư chính 310 và 311 có bãi đáp trực thăng cỡ lớn kèm kho chứa 2 trực thăng Z-9, theo trang Sinodefence.com. Trong đó, Z-9B của dòng Z-9 là loại trực thăng tấn công đa nhiệm đạt tốc độ lên đến 300 km/giờ, có tầm bay tối đa là 1.000 km và mang theo pháo cỡ nòng 23 li, ngư lôi, tên lửa đối không, tên lửa chống xe tăng… Ngoài ra, Bắc Kinh còn đang phát triển phiên bản trực thăng tấn công tàng hình WZ-19 từ dòng Z-9. Vì thế, khi các tàu ngư chính mang theo những loại trực thăng tấn công trên thì chúng sẽ có khả năng tác chiến như tàu chiến đích thực.
Bên cạnh đó, dù là lực lượng bán vũ trang nhưng Hải cảnh Trung Quốc cũng đang được bổ sung bằng những loại tàu chiến vũ trang hạng nặng. Theo một nghiên cứu của Trường Chiến tranh hải quân Mỹ, Trung Quốc đang tăng cường thêm lớp tàu 718 có vũ khí dành riêng cho lực lượng hải cảnh của nước này. Bên cạnh đó, Bắc Kinh còn phát triển thêm kiểu tàu lớp 218 được xem là phương tiện đặc chủng của hải cảnh với ưu điểm là tốc độ cao, tác chiến linh hoạt.
Ngô Minh Tr

Chủ Nhật, 5 tháng 8, 2012

Hãy tin vào Chúa Giêsu


Họ liền hỏi Người: "Chúng tôi phải làm gì để thực hiện những việc Thiên Chúa muốn? "9 Đức Giê-su trả lời: "Việc Thiên Chúa muốn cho các ông làm, là tin vào Đấng Người đã sai đến." Họ lại hỏi: "Vậy chính ông, ông làm được dấu lạ nào cho chúng tôi thấy để tin ông? Ông sẽ làm gì đây? Tổ tiên chúng tôi đã ăn man-na trong sa mạc, như có lời chép: Người đã cho họ ăn bánh bởi trời."
Đức Giê-su đáp: "Thật, tôi bảo thật các ông, không phải ông Mô-sê đã cho các ông ăn bánh bởi trời đâu, mà chính là Cha tôi cho các ông ăn bánh bởi trời, bánh đích thực, vì bánh Thiên Chúa ban là bánh từ trời xuống, bánh đem lại sự sống cho thế gian." Họ liền nói: "Thưa Ngài, xin cho chúng tôi được ăn mãi thứ bánh ấy." Đức Giê-su bảo họ: "Chính tôi là bánh trường sinh. Ai đến với tôi, không hề phải đói; ai tin vào tôi, chẳng khát bao giờ!
                             (Ga 6,28-35)
Giữa cuộc sống chạy theo vật chất, dường như mọi công việc, mọi nỗ lực, cố gắng của mình đều dành cho kiếm được nhiều tiền để hưởng thụ, mà quên nhu cầu tâm linh, hay chỉ quan tâm cho có lệ, thiếu tin vào Đức Giêsu Kitô.
Đức Giêsu Kitô đã hiến trọn thân mình cho chúng ta, Người còn ban chính Thịt và Máu Người qua Bí tích Thánh Thể để làm thần lương nuôi dưỡng chúng ta. Do đó, để có cuộc sống đời đời làm gia nghiệp, chúng ta cần tin Đức Giêsu Kitô là Đấng được Chúa Cha sai đến, cũng như thu7òng xuyên lãnh nhận Bí tích Thánh Thể  là bánh dưỡng nuôi ta trên đường về quê trời. (Trích Học viện Đaminh)
Lạy Chúa, chúng con tự hào vì được Chúa dựng nên và hu7óng dẫn, xin Chúa hằng rủ thương nâng đỡ chúng con, cùng ban ơn đổi mới và giữ gìn mọi loài Chúa dựng nên cho chúng con được nhờ. Chúng con cầu xin, nhờ Đức Giêsu Kitô Con Chúa, là Thiên Chúa, và là Chúa chúng con, Người hằng sống và hiển trị cùng Chúa, hợp nhất với Chúa Thánh Thần đến muôn thuở muôn đời. Amen.

BÁNH HẰNG SỐNG (CN 18 QN. B).
(Xh 16, 2-4, 12-15; Eph 4, 17, 20-24; Ga 6, 24-35)
Lịch sử ơn cứu độ là một tiến trình dài cả mấy ngàn năm liên quan đến một dân tộc đã được chọn lựa. Dân tộc này được Thiên Chúa yêu thương và hướng dẫn cách đặc biệt. Thiên Chúa chọn các tổ phụ là Abraham, Isaac và Giacob để rồi sinh xôi ra một dân tộc đông đúc, gọi là dân Do-thái. Lịch sử của dân tộc này cũng là lịch sử của ơn cứu độ. Diễn tiến cuộc sống thăng trầm của dân riêng là một qúa trình thanh luyện, thử thách và tôi luyện ròng rã để đón nhận Đấng Cứu Thế. Tuy được Thiên Chúa chở che và bảo vệ, dân chúng thường lại muốn vượt rào và chạy theo cách sống của ngoại lai. Thiên Chúa đã nhiều lần thiết lập giao ước với dân để giữ mối giao hảo thủy chung. Thực tế, dân chúng lại cứ chứng nào tật đó và ngựa theo đường cũ từ bỏ đường lối Chúa chạy theo thói đời.
Gặp nạn đói kém, các con cháu của Giacob di dân đến đất Ai-cập. Dân Do-thái sinh sống tại đất nước này khoảng 430 năm, 12 người con của ông Jacob trở thành các ông tổ của mười hai chi tộc dân Israel. Con cái cháu chắt nhiều đời đã sinh xôi nẩy nở trở thành một dân lớn mạnh. Khi Môisen dẫn dân ra khỏi Ai-cập: Con cái Israel nhổ trại rời Ram-xết đi Xúc-cốt, có khoảng sáu trăm ngàn bộ hành, chỉ kể đàn ông không kể trẻ con. Cả một đám đông hỗn tạp cùng lên với họ, mang theo chiên cừu, bò dê, họp thành một đàn súc vật đông đảo (Xh 12, 37-38). Qua câu truyện Xuất Hành của người Do-thái, chúng ta không thể hiểu và tưởng tượng được việc Chúa đã làm cho dân riêng. Lữ hành trong sa mạc, cả triệu người này lấy gì mà ăn uống, lấy gì mà mặc và rồi các sinh hoạt cá nhân, gia đình và cộng đồng… Họ trở thành dân du mục sống 40 năm tạm cư tại nhiều nơi trước khi vào miền Đất Hứa.
Sách Dân Số ghi nhận số người của từng chi tộc khi ra khỏi đất Ai-cập. Tại sa mạc Sinai, theo lệnh truyền của Thiên Chúa, ông Môisen kiểm tra dân số: Tất cả con cái Israel đã được kiểm tra theo gia tộc của họ, từ hai mươi tuổi trở lên, tất cả các chiến binh trong dân Israel, tổng số người được kiểm tra, là 603.550 (Ds 1, 45-46). Chúng ta thử tính trên 600 ngàn chiến binh cộng thêm các phụ nữ và con trẻ nữa, phải có trên một triệu người vượt Ai-cập. Cuộc sống văn minh tiến bộ với nhiều phương tiện như hiện nay, con số trên một triệu người di dân qủa là một vấn đề lớn. Biết bao nhiêu các nhu cầu cuộc sống cần phải đáp ứng. Dân Do-thái đã trải qua những thách đố tôi luyện rất căng thẳng. Tuy nhiên, cho dù đối diện với muôn ngàn khó khăn, sau cùng, họ cũng đã tiến vào miền đất hứa chảy sữa và mật.
Sách Xuất Hành ghi lại cuộc sống nay đây mai đó, dân chúng cảm thấy thiếu thốn mọi bề, nên than khóc. Nhớ về qúa khứ ở Ai-cập ngồi bên nồi thịt và ăn no nê, dân chúng đã bắt đầu thấy chán nản và kêu trách Môisen và Aaron về lương thực hằng ngày. Thiên Chúa phán: "Ta đã nghe tiếng con cái Israel kêu trách. Vậy, ngươi hãy bảo chúng rằng: Vào buổi chiều, các ngươi sẽ được ăn thịt, và ban sáng, các ngươi sẽ được ăn bánh thoả thuê, và các ngươi sẽ biết rằng Ta là Chúa, Thiên Chúa của các ngươi”.(Xh 16, 12). Qua những thăng trầm cuộc sống, Thiên Chúa từ từ mạc khải những mầu nhiệm Nước Trời. Qua bánh Manna nuôi sống thân xác, Chúa dẫn đến của ăn nuôi dưỡng phần hồn. Tất cả những sự cố xảy ra trong cuộc lữ hành của dân Do-thái đều mang một ý nghĩa nhiệm mầu trong chương trình cứu độ. Từ những sự kiện Môisen lãnh nhận Thập Giới, việc ông Môisen đập gậy vào tảng đá để nước chảy ra và việc Môisen treo con rắn đồng lên làm dấu trong hoang địa, để ai bị rắn cắn mà nhìn lên rắn đồng, sẽ được cứu. Thiên Chúa vừa thanh luyện tâm hồn vừa mạc khải những ý nhiệm sâu xa về Thiên Chúa độc nhất và chương trình cứu độ.
Lịch sử cứu độ được lồng vào lịch sử của dân tộc Do-thái, dân Chúa chọn. Dân Do-thái đã cưu mang chương trình cứu chuộc trong suốt hành trình lưu lạc trần thế. Thiên Chúa luôn yêu thương và giữ lời giao ước với đoàn dân.  Dân chúng cũng đã vui hưởng những năm tháng an bình thịnh trị. Nhưng họ cũng không tránh khỏi những thăng trầm, gian nan, thách đố của cuộc sống. Trải qua lịch sử, cho dù nhiều lần dân chúng bỏ Chúa chạy theo bụt thần, Chúa vẫn luôn chờ đợi ngày họ quay trở về. Thiên Chúa quan tâm sai các tiên tri như là những sứ giả mở đường khai thông và bắc những nhịp cầu kết nối để giúp họ quay đầu sám hối.
Lời mời gọi sám hối là bước đầu đi vào cuộc sống an lạc và bình an. Chúa Giêsu khi ra rao giảng, Ngài cũng kêu gọi sám hối vì Nước Trời đã gần. Thánh Phaolô tông đồ cũng không ngừng nhắc nhở: Vì thế, anh em phải cởi bỏ con người cũ với nếp sống xưa, là con người phải hư nát vì bị những ham muốn lừa dối, anh em phải để Thần Khí đổi mới tâm trí anh em (Eph 4, 22-23). Lời mời gọi sám hối không phải chỉ để nghe nhưng là thực hành. Chúng ta không phải chờ tới ngày mai hay có cơ hội thuận tiện mới sám hối quay về. Lời của Chúa có sức mạnh tác động ngay trong hiện tại nếu chúng ta biết mở lòng đón nhận và quyết tâm sửa đổi cách sống.
Trong bài phúc âm hôm nay, từ những của ăn phần xác hay hư nát, Chúa Giêsu đã giới thiệu một loại bánh trường sinh. Bánh ban sự sống, đó là chính Chúa Giêsu. Chúa Giêsu đã dậy: Các ông hãy ra công làm việc không phải vì lương thực mau hư nát, nhưng để có lương thực thường tồn đem lại phúc trường sinh, là thứ lương thực Con Người sẽ ban cho các ông, bởi vì chính Con Người là Đấng Thiên Chúa Cha đã ghi dấu xác nhận (Ga 6, 27). Chúa Giêsu là bánh từ trời xuống ban sự sống cho thế gian. Đây là một ý tưởng ngoại thường, dân chúng không dễ dàng chấp nhận. Sau khi nghe Chúa nói về bánh hằng sống chính là thịt và máu của Chúa, các môn đệ cũng xì xầm nhỏ to và có nhiều môn đệ rút lui, không đi theo Thầy nữa.
Lời của Chúa Giêsu phán hai ngàn năm trước, hôm nay vẫn mang tròn đầy ý nghĩa. Chúa Giêsu đã lập Bí tích Thánh Thể, Chúa dùng bánh và rượu là của nuôi thân xác biến đổi thành Thịt và Máu Thánh Chúa để nuôi linh hồn. Đây chính là mầu nhiệm đức tin. Chúa phán: Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời. Và bánh tôi sẽ ban tặng, chính là thịt tôi đây, để cho thế gian được sống (Ga 6, 51). Lời truyền của Chúa Giêsu không thay đổi vì là lời hằng sống. Giáo Hội tin và tôn thờ Chúa Giêsu hiện diện trong Bí Tích Thánh Thể. Thánh Thể trở nên trung tâm điểm trong đời sống của các Kitô hữu. Đến với Thánh Thể là đến với chính Chúa Giêsu. Thực tế niềm tin cuộc sống, nhiều người không còn tin thật Chúa Giêsu hiện diện dưới hình bánh hình rượu trong Bí tích Thánh Thể. Cả chúng ta, các Kitô hữu nhiều khi cũng lơ là và không tôn kính đủ khi đến với Thánh Thể nơi Nhạ Tạm.
Lạy Chúa, xin ban thêm đức tin để chúng con nhận diện ra Chúa đang ngự giữa chúng con trong Bí Tích Thánh Thể. Đã nhiều lần chúng con đi qua Nhà Tạm Thánh Thể, Chúa hiện diện đó nhưng chúng con vô tình ngoảnh mặt làm ngơ. Chúa đã dùng Bí Tích Thánh Thể để hiện diện và trở nên thần lương nuôi dưỡng chúng con. Xin cho chúng con biết kết hợp mật thiết với Chúa trong mọi nơi và mọi lúc. Amen.
Lm. Giuse Trần Việt Hùng
Bronx, New York

Thứ Sáu, 3 tháng 8, 2012

Chứng nhân công lý


Thời ấy, tiểu vương Hê-rô-đê nghe danh tiếng Đức Giê-su, thì nói với những kẻ hầu cận rằng: "Đó chính là ông Gio-an Tẩy Giả; ông đã từ cõi chết trỗi dậy, nên mới có quyền năng làm phép lạ."
Số là vua Hê-rô-đê đã bắt trói ông Gio-an và tống ngục vì bà Hê-rô-đi-a, vợ ông Phi-líp-phê, anh của nhà vua. Ông Gio-an có nói với vua: "Ngài không được phép lấy bà ấy." Vua muốn giết ông Gio-an, nhưng lại sợ dân chúng, vì họ coi ông là ngôn sứ. Vậy, nhân ngày sinh nhật của vua Hê-rô-đê, con gái bà Hê-rô-đi-a đã biểu diễn một điệu vũ trước mặt quan khách, làm cho nhà vua vui thích. Bởi đó, vua thề là hễ cô xin gì, vua cũng ban cho. Nghe lời mẹ xui bảo, cô thưa rằng: "Xin ngài ban cho con, ngay tại chỗ, cái đầu ông Gio-an Tẩy Giả đặt trên mâm." Nhà vua lấy làm buồn, nhưng vì đã trót thề, lại thề trước khách dự tiệc, nên truyền lệnh ban cho cô. Vua sai người vào ngục chặt đầu ông Gio-an. Người ta đặt đầu ông trên mâm, mang về trao cho cô, và cô ta đem đến cho mẹ. Môn đệ ông đến lấy thi hài ông đem đi mai táng, rồi đi báo cho Đức Giê-su.
(Mt 14,1-12)