Tìm kiếm Blog này

Thứ Hai, 9 tháng 7, 2012

Ngắm 15 SỰ THƯƠNG KHÓ ĐỨC CHÚA GIÊSU




THƯƠNG ÔI ! 
CON ĐỨC CHÚA TRỜI RA ĐỜI 
CHỊU TRĂM NGHÌN SỰ THƯƠNG KHÓ VÌ TỘI THIÊN HẠ.
THỨ NHẤT THÌ NGẮM:
Khi Đ.C.G. đã đến ngày dọn chịu nạn, mà chuộc tội cho thiên hạ, thì có thằng Giuđa là đầy tớ, Đ.C.G. đã nuôi nó nhiều năm, dạy dỗ những sự hiền lành; mà quỷ dục lòng nó bán Đ.C.G. cho quân Giudêu ba mươi đồng bạc. Vậy, Đ.C.G. thương thiên hạ, toan liều mình chịu chết, thì giã Đức Mẹ mà đi thành Giêrusalem, là kẻ chợ nước Giudêu. Song le trước chịu nạn, thì đêm ấy Đ.C.G. lấy nước mà quì xuống rửa chân cho các đầy tớ cả, cùng rửa chân thằng Giuđa với, chẳng những nước không, cùng lấy nước mắt rửa chân cho nó nữa, vì thương tiếc linh hồn ấy rình mất. Đoạn Đ.C.G. truyền phép Thánh Thể cho thiên hạ: là phép Mình Thánh, nuôi lấy linh hồn loài người ta cho đến hết đời.

Khi ngắm bấy nhiêu sự, thì nguyện một kinh Lạy Cha, ***3 kinh Kính Mừng***.
Đội ơn Đ.C.G. đã truyền phép Thịt Máu mình cho chúng tôi. Lại xin xuống sức giữ đạo cho trọn, chớ bắt chước thằng Giuđa bán Đ.C.G. làm vậy. Amen. 
THỨ HAI THÌ NGẮM:
Khi Đ.C.G. đêm ấy thấy tội thiên hạ, và thằng Giuđa phải sa hoả ngục cùng kẻ ngày sau theo ý nó, thì Đ.C.G. lo buồn sầu não, liền vào một vườn làng ấy gọi là Giệtsimani, mà chọn ba đầy tớ đi cùng, một là ông thánh Phêrô, hai là ông thánh Giacôbê, ba là ông thánh Gioan. Vậy Đ.C.G. sấp mình xuống đất, cầu cùng Đức Chúa Cha ba lần. Đang khi còn nguyện, thì Đức Chúa Cha sai một Thiên Thần xuống an ủi Đ.C.G. vào chịu nạn, cho cả và loài người ta được khỏi tội. Đoạn Đ.C.G. lo lắm, cho nên nhọc cả và mình, mà những mồ hôi máu chảy ra nhỏ xuống đất.

Khi ngắm bấy nhiêu sự, thì nguyện một kinh Lạy Cha, ***3 kinh Kính Mừng***.
Thương Đ.C.G. lo buồn vì chúng tôi. Xin dốc lòng chừa mọi tội; kẻo làm cho Đ.C.G. lo buồn làm vậy. Amen. 
THỨ BA THÌ NGẮM:
Khi Đ.C.G. đã biết thằng Giuđa cùng các quân dữ đã đến gần, thì Đ.C.G. rước nó. Bấy giờ thằng Giuđa giả chước đến hôn mặt Đ.C.G. mà người biết lòng nó độc, thì cũng nhịn mà chào nó. Đoạn liền hỏi các quân dữ rằng: bay đi tìm ai? Nó thưa rằng: chúng ta đi tìm Giêsu Nazarét. Bấy giờ Đ.C.G. phán rằng: Ta đây , nó liền ngã ra hết. Đoạn Đ.C.G. cho nó đứng dậy, mà hỏi như khi trước, nó lại thưa như vậy, thì Người mới phó mình cho nó bắt. Khi ấy ông thánh Phêrô chém đứt tai một người đầy tớ thầy cả Giudêu, mà Đ.C.G. quở ông thánh Phêrô, cùng chữa tai thằng ấy cho đã. Bấy giờ quân dữ lấy lòi tói sắt, cùng dây da, mà buộc cổ, và trói cánh tay Đ.C.G. cùng đấm miệng ba mươi lần mà lôi đi. Đêm ấy Người ngã xuống đất bảy lần; mà quân dữ lại đạp dậy. Có kẻ lấy lọng gươm mà thúc; có kẻ lấy đuốc hoa trước mặt, lại châm vào mình cho tắt đi. Sau nữa, đến sông thì nó đi trên cầu, mà dòng dây bắt Đ.C.G. lội dưới sông lạnh lẽo giá rét.

Khi ngắm bấy nhiêu sự, thì nguyện một kinh Lạy Cha, ***3 kinh Kính Mừng***.
Thương Đ.C.G. chịu khó vì chúng tôi; Xin mở dây ra là tội buộc linh hồn chúng tôi. Amen. 
THỨ BỐN THÌ NGẮM:
Khi quân dữ nộp Đ.C.G. cho Annát, là cha vợ Caipha làm thầy cả Giudêu, mà Đ.C.G. chịu nhiều sự khó trong nhà ấy, đoạn mới nộp cho Caipha. Bấy giờ có một người các quan, xỏ tay vào bao sắt, mà vả ngang mặt Đ.C.G. trước mặt thiên hạ. Thầy cả Giudêu nghe thấy, Đ.C.G. xưng mình là con Đức Chúa Trời, thì mắng rằng: ấy bay đã thấy nó nói lời lỗi làm vậy, còn tìm chứng nào làm chi nữa, mà chẳng giết đi cho rồi. Đêm ấy quân dữ bắt trói cánh tay Đ.C.G. vào cột đá, mà lấy khăn che mặt, đoạn mới nhổ, cùng giật tóc và râu Đ.C.G.. Lại lấy roi, cùng bên dưới hài đi, đánh ngang mặt, lại vả thâu đêm, bốn trăm lần. Đêm ấy có kẻ hỏi ông thánh Phêrô rằng: mày phải đầy tớ Giêsu chăng? Ông thánh Phêrô liền sợ, mà chối ba lần rằng:

Mình chẳng biết người ấy là ai. Đ.C.G. thương mà trở mặt ra xem ông thánh Phêrô, bấy giờ người ăn năn tội ấy lắm, ra ngoài khóc lóc, chẳng có khi đừng, trọn đời đến sớm mai gà gáy, nhớ đến tội xưa liền khóc lóc.

Khi ngắm bấy nhiêu sự, thì nguyện một kinh Lạy Cha, ***3 kinh Kính Mừng***.
Thương Đ.C.G. chịu thương khó vì chúng tôi, xin cho chúng tôi mạnh sức mà xưng đạo Đ.C.G. ra kẻo ngày nào chối chăng. Amen. 
THỨ NĂM THÌ NGẮM:
Khi quân dữ sớm mai nộp Đ.C.G. cho quan Trấn Thủ tên là Philatô, mà quan ấy xét chẳng thấy sự gì lỗi thì khiến tha: nhưng mà quân ấy kêu can chẳng cho, thì Philatô phó Đ.C.G. cho mặc vua Êrode xét. Mà Êrode hỏi mọi lẽ, song le Đ.C.G. chẳng thưa một điều, cho nên vua ấy giận mà chê răng: Người này dại, nào biết đí gì mà nộp cho tao xét làm sao? Đoạn khiến lấy áo trắng cho mặc: rằng người dại thì mặc áo ấy, mà đem về trả quan Philatô, khi còn đi dọc đàng, thì quân dữ đánh Đ.C.G. cùng làm những sự xấu hổ. Philatô thấy Đ.C.G. thì thương: Vốn thói Giudêu, đến ngày lễ cả thường tha một người tù; cũng có đứa trộm cướp giết người, tên là Baraba cầm đấy, thì Philatô hỏi dân rằng: một là Giêsu, hai là Baraba, bay muốn tha ai? Bấy giờ nó thưa rằng: tha Baraba mà giết Giêsu.

Khi ngắm bấy nhiêu sự, thì nguyện một kinh Lạy Cha, ***3 kinh Kính Mừng***.
Thương Đ.C.G. chịu xấu hổ vì chúng tôi. Xin cho chúng tôi được lòng kính mến Đ.C.G. trên hết mọi sự, chớ bắt chước quân Giudêu yêu kẻ gian dữ, mà bỏ mọi sự lành làm chi. Amen. 
THỨ SÁU THÌ NGẮM:
Khi Philatô thấy dân chẳng chịu tha Đ.C.G.thì phó cho một cơ quân, là sáu trăm sáu mươi sáu người, mà khiến đánh Đ.C.G. cho đẹp lòng dân Giudêu. Bấy giờ nó lột áo ra, liền trói chân tay vào cột đá. Đoạn lấy chà gai, cùng dây da, và lòi tói sắt đánh cả và mình Đ.C.G. dư năm nghìn đòn, cho nên nát hết thịt ra, xem thấy xương, chẳng còn nơi đâu lành, mặt mũi chẳng còn hình tượng người như trước nữa. Song le bấy nhiêu quân ấy chẳng có ai thương Đ.C.G. sốt; nó đánh nhọc mỏi tay; mà lòng Người còn muốn chịu khó nữa vì tội thiên hạ.

Khi ngắm bấy nhiêu sự, thì nguyện một kinh Lạy Cha, ***3 kinh Kính Mừng***.
Thương Đ.C.G. phải đòn như kẻ trộm cướp trước mặt thiên hạ. Xin cho chúng tôi dốc lòng chừa mọi tội, kẻo làm cho Đ.C.G. phải đòn làm vậy. Amen. 

THỨ BẢY THÌ NGẮM:
Khi quân dữ đã đánh Đ.C.G. đoạn, thì Người mặc áo vào, mà áo ấy dính máu nơi dấu đòn đánh, thì quân dữ lại giật áo đi, cho nên máu nơi dấu lại chảy ra theo. Bấy giờ nó khiến Đ.C.G. mặc một áo đỏ, đoạn lấy chà gai khoanh tròn làm nén, đóng vào đầu Đ.C.G. bảy mươi hai cái gai thì lọt vào óc, máu chảy xuống đầy mặt ròng ròng. Đoạn nó khiến Người ngồi, mà quì xuống nhạo rằng: tâu vua Giudêu, cùng giổ ngang mặt. Có kẻ lấy dùi mà va trên gai lọt vào cho lắm, có kẻ thì vả ngang mặt, cho nên máu trong miệng lại chảy ra.

Khi ngắm bấy nhiêu sự, thì nguyện một kinh Lạy Cha, ***3 kinh Kính Mừng***.
Thương Đ.C.G. là Chúa thật trời đất. Xin cho chúng tôi thờ phượng cùng kính mến trên hết mọi sự. Amen. 

THỨ TÁM THÌ NGẮM:
Khi Philatô thấy các quan làm khốn Đ.C.G. quá lẽ lắm thì thương, mà ngờ là dân xem thấy hình tượng khốn nạn làm vậy cũng thương chăng, thì Philatô đem Người lên nơi cao trước mặt thiên hạ mà rằng: "Này là Người ấy". Dân liền kêu lên rằng: đem đi đóng đanh nó gác thánh giá. Philatô lại rằng: tao đóng đanh vua bay làm sao?

Dân thưa rằng: chúng tôi có một vua tên là Sisari. Bấy giờ Philatô thấy mất công; sợ dân cáo mình cùng vua chăng, thì phó Đ.C.G. cho mặc dân đem đi giết.

Khi ngắm bấy nhiêu sự, thì nguyện một kinh Lạy Cha, ***3 kinh Kính Mừng***.
Thương Đ.C.G. xin cho chúng tôi giữ nghĩa cho đến trọn đời, chớ bắt chước quân Giudêu chẳng nhìn Đ.C.G. làm vậy. Amen.
THỨ CHÍN THÌ NGẮM:
Khi quân Giudêu đóng cây thánh giá nặng lắm, mà khiến Đ.C.G. vác đi, thì Người yếu nhọc hết sức, vác đi lâu ngã xuống đất mà quân dữ chẳng thương, lại đạp dậy, giục đi cho chóng. Sau nữa, nó sợ Người chết dọc đàng chẳng đến nơi chăng, thì nó mượn một người đi đàng vác đỡ. Khi ấy cả và thiên hạ theo mà xem, song le những người mến Đ.C.G. thì thương khóc lóc. Bấy giờ Người giở mặt lại mà rằng: "Ở con thành Giêrusalem, chớ khóc thương Ta làm chi, một khóc thương bay; cùng con cháu bay ngày sau phải khốn mà chớ". Đang khi Người còn vác thánh giá đi, thì có một bà ấy tên là Veronica, thấy mặt mũi Đ.C.G. những máu chảy ra, thì bà ấy trao khăn cho Người lọt mặt đi, hết hình tượng mặt liền in vào trong khăn ấy, rầy hãy còn ở thành Roma.

Khi ngắm bấy nhiêu sự, thì nguyện một kinh Lạy Cha, ***3 kinh Kính Mừng***.
Thương Đ.C.G. vác thánh giá nặng là tội chúng tôi. Xin cho chúng tôi được lòng ghét tội, kẻo làm khốn cho Đ.C.G. làm vậy. Amen. 
THỨ MƯỜI THÌ NGẮM:
Khi quân dữ đem Đ.C.G. lên núi, tên là Calvariô; là nơi những sọ kẻ phải giết vì có tội lỗi; mà quân ấy khiến Đ.C.G. uống rượu với của đắng. Đoạn lột áo ra, những máu nơi dấu đòn đánh lại chảy ra theo. Bấy giờ nó bắt Đ.C.G. nằm ngửa trên cây Thánh Giá mà lấy búa đóng đanh tay tả. Tay hữu thì nó buộc kéo hết sức liền giãn xương ngực ra, mà đóng đanh vào, cho nên Đ.C.G. đau đớn lắm. Đoạn lại kéo hai chân xuống cho đến lỗ nó làm đã sẵn, mà đóng đanh vào.

Bấy giờ các quan lấy một ván viết chữ vào rằng: "Giêsu Nazarét, là vua Giudêu", đoạn đóng ván ấy vào Thánh Giá. Quan viết chữ ấy cho xấu hổ; song le ý Đức Chúa Trời khiến viết chữ ấy, cho thiên hạ biết: Đ.C.G. dù mà chịu hèn hạ làm vậy thì cũng là Vua thật Giudêu, cùng khắp mọi nước. Đoạn nó đào lỗ dựng Thánh Giá lên; khi ấy dấu hai tay Đ.C.G. bởi xác nặng thì xếch ra máu chảy xuống đất ròng ròng. Bấy giờ bốn người các quan, lấy áo ngoài Đ.C.G. cắt chia ra làm bốn phần, còn áo trong thì để vậy mà bắt thăm, ai được thì lấy trót. Đoạn những sãi, cùng các quan, cả và thiên hạ nhạo cười làm cho xấu hổ, mà Đ.C.G. liền rằng: "Con xin Đức Chúa Cha tha tội cho nó, vì nhầm chẳng biết".

Khi ngắm bấy nhiêu sự, thì nguyện một kinh Lạy Cha, ***3 kinh Kính Mừng***.
Thương Đ.C.G. chịu đóng đanh vì cả và loài người ta. Xin dâng mình chúng tôi cho Đ.C.G., vì đã lấy hết máu mình mà chuộc tội cho thiên hạ. Amen. 
THỨ MƯỜI MỘT THÌ NGẮM:
Khi quân dữ đóng đanh Đ.C.G.,cùng đóng đanh hai người trộm cướp hai bên, mà một đứa bên tả mắng Đ.C.G. rằng: Phải con Đức Chúa Trời, sao chẳng chữa mình cùng chữa ta nữa. Bấy giờ người bên hữu mắng nó rằng: ta là kẻ có tội, đáng sa hoả ngục, chịu đóng đanh thì thậm phải, mà Người có tội lỗi gì mà chịu làm vậy, sao mày trách Người làm chi?

Đoạn xin cùng Đ.C.G. rằng: "Lạy Chúa tôi, khi nào lên nước trên trời, nhớ đến tôi cùng". Bấy giờ Đ.C.G. giở mặt lại cùng người ấy mà rằng: "thật hôm nay Tao cho mày ở nơi vui vẻ cùng Tao". Sau nữa Rất Thánh Đức Mẹ mắng tiếng đã đem Con đi giết, thì Người đi theo dọc đàng, thấy máu Con rơi cho đến nơi Đ.C.G. chịu nạn. Khi các quan đóng đanh Con, thì cũng như đóng đanh trong lòng Đức Mẹ vậy, vì Người yêu Con trên hết mọi sự. Vậy Đ.C.G. thấy Đức Mẹ đứng gần ông thánh Gioan thì thương mà nói rằng: "Ở Bà kia, ấy Gioan là con Bà" Lại phán cùng ông thánh Gioan rằng: "Bà ấy là Mẹ con". Đức Mẹ nghe lời làm vậy thì lo buồn lắm, vì đã biết thật, một ít nữa Con chẳng còn ở cùng Mẹ nữa. Khi ấy là giờ ngọ, mà cả và trời đất liền tối tăm mù mịt, mặt trời xem chẳng đang, Chúa sinh nên muôn vật chịu nạn cùng chịu xấu hổ dường ấy.

Khi ngắm bấy nhiêu sự, thì nguyện một kinh Lạy Cha, ***3 kinh Kính Mừng***.
Thương Đ.C.G. cùng Đức Mẹ: Xin cho chúng tôi được làm con Rất Thánh Đức Bà, như ông thánh Gioan thuở xưa. Amen. 
THỨ MƯỜI HAI THÌ NGẮM:
Khi Đ.C.G. một giờ rưỡi ở trên thánh giá mà ở lặng; cầu cùng Đức Chúa Cha thầm thĩ. Đoạn Đ.C.G. than thở cả tiếng rằng: Đức Chúa Cha để con chịu một mình làm sao? Ý Người nói làm vậy cho thiên hạ biết: Đ.C.G. chịu thương khó hết lòng hết sức vì tội thiên hạ. Đoạn Đ.C.G. mướt máu thì kêu rằng, "khát nước", quân dữ liền lấy giấm đưa lên cho uống. Bấy giờ Người phán rằng: "đã đoạn", ấy là hết việc chuộc tội cho thiên hạ.

Khi ngắm bấy nhiêu sự, thì nguyện một kinh Lạy Cha, ***3 kinh Kính Mừng***.
Thương Đ.C.G. xin cho chúng tôi đẹp lòng Đ.C.G. liên; chớ bắt chước quân Giudêu lấy của chua cho uống, ấy là chớ làm tội lỗi mất lòng Đ.C.G. nữa. Amen. 
THỨ MƯỜI BA THÌ NGẮM:
Khi Đ.C.G. đã chảy hết máu mình ra, con mắt thì lõm vào; mặt mũi thì xanh xao, liền kêu cả tiếng rằng: "Con phó linh hồn ở tay Đức Chúa Cha". Đoạn thì gục đầu xuống bên Đức Mẹ đứng, như giã Đức Mẹ vậy, mà linh hồn cực trọng ấy ra khỏi xác liền sinh thì. Bấy giờ cả và thiên hạ liền động, núi non là đá vỡ ra; màn trong nhà thờ xẻ ra làm hai; mồ kẻ chết bỗng chốc mở ra, mà trời đất u ám, như thương Đ.C.G. chịu chết vì tội thiên hạ.

Khi ngắm bấy nhiêu sự, thì nguyện một kinh Lạy Cha, ***3 kinh Kính Mừng***.
Đội ơn Cha Cả đã chịu chết vì con dữ là chúng tôi. Xin dốc lòng chừa mọi tội cho nên, kẻo làm cho Đ.C.G. chịu chết làm vậy. Amen. 
THỨ MƯỜI BỐN THÌ NGẮM:
Khi linh hồn Đ.C.G. ra khỏi xác, xuống ngục tổ tông, cứu những linh hồn các Thánh xưa ở đây, đợi trông Đ.C.G. xuống thế chuộc tội cho thiên hạ. Bấy giờ quan tướng cùng nhiều các quan thấy những phép lạ làm vậy, thì xưng ra rằng: "Người ấy là con Đức Chúa Trời thật", liền đánhngực ăn năn, vì đã phạm tội cực trọng ấy.

Khi ngắm bấy nhiêu sự, thì nguyện một kinh Lạy Cha, ***3 kinh Kính Mừng***.
Xin Đ.C.G. thương chúng tôi còn ở dưới thế, trông ngày sau thấy mặt cực tốt cực lành, như các Thánh ở ngục tổ tông xưa. Amen. 
THỨ MƯỜI LĂM THÌ NGẮM:
Khi xác Đ.C.G. còn trên Thánh Giá, thì có một người các quan, lấy đòng mà đâm cạnh nương long Đ.C.G. phải Trái Tim, bấy giờ máu cùng nước chảy ra, song le khi ấy xác Đ.C.G. chẳng có đau, vì đã sinh thì, nhưng mà lòng Đức Mẹ đau đớn, như đâm trong lòng vậy; vì nó chẳng thương khi còn sống, cùng chẳng thương khi đã sinh thì. Đoạn hai người trọng là đầy tớ Đ.C.G.: một là Giuse, hai là Nicôđêmô, cất xác xuống, mà phó ở tay Đức Mẹ, thì Người khóc lóc thương Con chẳng có khi đừng. Đoạn tắm xác Đ.C.G. mà táng trong hang đá, thì cũng như cất xác Đức Mẹ với, vì Người thảm thiết thương Con lắm; khi cất xác Con, thì như cắt ruột Mẹ ra vậy.

Khi ngắm bấy nhiêu sự, thì nguyện một kinh Lạy Cha, ***3 kinh Kính Mừng***.
Thương Đ.C.G. để cho người ta cất xác xuống đất, xin cho chúng tôi nhớ đến những sự thương khó Đ.C.G. xưa chịu chết vì tội thiên hạ, mà tích trong lòng chúng tôi cho đến trọn đời. Amen. 

CHÚNG TÔI DÂNG 15 SỰ THƯƠNG KHÓ ĐỨC CHÚA GIÊSU CHO ĐỨC BÀ:
Lạy ơn Rất Thánh Đức Bà Maria, lòng rộng rãi cực nhân cực thương, xưa thấy Con là Đ.C.G., Giuda bắt nộp cho quân Giudêu, thì lòng Đức Bà đau đớn, như phải dao sắc thâu qua lòng vậy. Lại thấy Đ.C.G chịu đòn đánh nát hết cả và mình, chịu đội mạo gai, vác Thánh Giá nặng, chịu đóng đanh mình trên cây Thánh Giá, chịu chết vì tội thiên hạ, thì lòng Đức Bà cùng cả và mình, lo buồn sầu não khóc lóc, như phải đóng đanh mình trên cây Thánh Giá vậy. Chúng tôi là kẻ rất hèn mọn, đã nguyện và ngắm mười lăm sự thương khó Đ.C.G, thì dâng cho Đức Bà, như cây hoa đỏ Máu Thánh Đ.C.G nhuộm, làm cho thơm tho loài người ta. Vì vậy chúng tôi cậy vì công nghiệp Đ.C.G cùng xin Đức Bà cầu cùng Đ.C.G, cho chúng tôi được mạnh sức trong linh hồn, cùng biết nguyện ngắm, và mến những sự thương khó Đ.C.G, cùng ở khiêm nhường, bằng lòng chịu những sự khốn nạn xấu hổ, cùng sự âu lo, lo buồn thế gian mà hằng giữ việc lành phúc đức, cho đến giờ qua khỏi đời này, được giữ một lòng kính mến Đức Chúa Trời, cho được ơn Đ.C.G. Amen.

IMPRIMATUR: Saigon, ngày 31-1-1972
Fr. TRẦN THANH KHÂM. Ep. Ãu & Vie Gen 

Lòng tin của con đã cứu chữa con


Người còn đang nói với họ như thế, thì bỗng một vị thủ lãnh đến gần bái lạy Người và nói: "Con gái tôi vừa mới chết. Nhưng xin Ngài đến đặt tay lên cháu, là nó sẽ sống." Đức Giê-su đứng dậy đi theo ông ấy, và các môn đệ cũng đi với Người.
Bỗng một người đàn bà bị băng huyết đã mười hai năm tiến đến phía sau Người và sờ vào tua áo của Người, vì bà nghĩ bụng: "Tôi chỉ cần sờ được vào áo của Người thôi là sẽ được cứu! " Đức Giê-su quay lại thấy bà thì nói: "Này con, cứ yên tâm, lòng tin của con đã cứu chữa con." Và ngay từ giờ ấy, bà được cứu chữa.
Đức Giê-su đến nhà viên thủ lãnh; thấy phường kèn và đám đông xôn xao, Người nói: "Lui ra! Con bé có chết đâu, nó ngủ đấy! " Nhưng họ chế nhạo Người. Khi đám đông bị đuổi ra rồi, thì Người đi vào, cầm lấy tay con bé, nó liền trỗi dậy. Và tin ấy đồn ra khắp cả vùng.
(Mt 9,18-26)
Lời nguyện:
Lạy Chúa Giêsu
Con đường dài nhất là con đường từ tai đến tay.
Chúng con thường xây nhà trên cát,
Vì chỉ biết thích thú nghe lời Chúa dạy,
Nhưng lại không dám đem ra thực hành.
Chính vì thế
Lời Chúa chẳng kết trái nơi chúng con.
Xin cho chúng con
Đừng hời hợt khi nghe lời Chúa,
Đừng để nỗi đam mê làm lời Chúa trở nên xa lạ.
Xin giúp chúng con dọn dẹp mãnh đất đời mình,
Để hạt giống lời Chúa được tự do tăng trưởng.
Ước gì ngôi nhà đời chúng con
Được xây trên nền tảng vững chắc,
Đó là lời Chúa
Lời chi phối toàn bộ cuộc sống chúng con.
                          Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, S.J.





Chủ Nhật, 8 tháng 7, 2012

TÌNH THƯƠNG CHINH PHỤC LÒNG NGƯỜI


Vào năm 1960, một cuộc bách hại đạo Công Giáo bùng lên tại nước Su-đăng thuộc Phi Châu. Một sinh viên Công giáo da đen tên là Ta-ban đã bỏ nhà chạy sang nước láng giềng U-gan-đa lánh nạn. Trong thời gian ở đây, Ta-ban đã được nhận vào chủng viện và 7 năm sau, anh được thụ phong Linh Mục. Khi tình hình ở Su Đăng lắng dịu, tân linh mục Ta-ban quyết định trở lại quê nhà để thi hành sứ mệnh linh mục của mình. Cha được Bề trên bổ nhiệm coi sóc một giáo xứ vùng Pa-lo-ta-ka. Tuy nhiên, giáo dân ở đây lại hoài nghi về chức linh mục của cha như chính ngài đã thuật lại sự kiện ấy như sau : “Dân chúng ngờ vực nhìn tôi và nói : “Này anh bạn da đen kia ! Anh nói cái gì vậy ? Anh mà là Linh mục ư ? Thật là khó tin !”.
Thực ra trước đây, tại Su Đăng chưa bao giờ xuất hiện một Linh mục nào người da đen cả. Giáo xứ luôn được các Linh mục thừa sai da trắng đến chăm sóc và chia sẻ nhiều thực phẩm, quần áo và thuốc men. Còn bây giờ cha Ta-ban lại là một người da đen nghèo khó giống như họ, nên chẳng có gì để phân phát như các linh mục da trắng kia. Tình hình lại càng phức tạp thêm, khi cha Ta-ban bắt đầu canh tân phụng vụ Thánh lễ theo đường hướng Công đồng Va-ti-can II. Giáo dân đã xầm xì với nhau : “Ông linh mục da đen này còn bày đặt làm lễ bằng tiếng bản xứ thay vì bằng tiếng La tinh. Chắc ông ta không rành tiếng La tinh nên mới làm như vậy ! Không biết ông ta là Linh mục thật hay giả ?”. Phải mất 10 năm, sau bao nhiêu vất vả để phục vụ giáo xứ, chịu đựng bao nhiêu sự miệt thị khinh dể, cuối cùng cha Ta-ban mới được giáo dân thừa nhận là Cha Sở của họ.
SUY NIỆM :
-Câu chuyện về Linh mục Ta-ban giúp chúng ta hiểu lý do tại sao Đức Giê-su bị dân làng Na-da-rét không tin Người là Đấng Thiên Sai, dù thán phục tài giảng đạo và quyền năng chữa bệnh của Người. Là do họ vấp phạm là vì gia thế hèn kém của Người. Họ nói : “Bởi đâu ông ta được như thế ? Ông ta được khôn ngoan như vậy nghĩa là làm sao ? (x Mc 6,2-3). Thời Giáo hội sơ khai, cũng có một nhân vật tên là Xen-xút (Celsus) luôn thù ghét Ki-tô giáo và nhiều lần chế diễu các Ki-tô hữu như sau : “Giê-su Đấng sáng lập của các người chỉ là một gã thợ mộc dốt nát bần hàn, xuất thân từ làng Na-da-rét tầm thường ! Thật khó mà chấp nhận được một Đấng Cứu Thế lại xuất thân từ một xưởng gỗ nhỏ bẻ, phải vất vả kiếm sống bằng đôi bàn tay lao động hằng ngày như thế !”
-Đức Giê-su phán : “Trò không hơn Thầy, tớ không hơn chủ. Trò được như Thầy, tớ được như chủ đã là khá lắm rồi !”. Ngày nay chúng ta cũng đừng ngạc nhiên khi bị người đời chống đối do chúng ta không chấp nhận phá thai, ly dị, hay khi ta chống lại những bất công mà các phụ nữ và trẻ em đang phải chịu đựng. Chúng ta cũng đừng ngạc nhiên khi có những Ki-tô hữu phản đối chúng ta vì chúng ta khác họ về chủng tộc, tiếng nói, quốc gia hay về tình trạng kinh tế. Cuối cùng, chúng ta cũng đừng ngạc nhiên nếu đôi khi ta bị những người thân ruột thịt chống lại ta, vì chúng ta đã tin Đức Giê-su, như Người đã báo trước : “Họ sẽ chia rẽ nhau : cha chống lại con trai và con trai chống lại cha, Mẹ chống lại con gái và con gái chống lại mẹ ; Mẹ chồng chống lại nàng dâu và nàng dâu chống lại mẹ chồng” (Lc 12,53). Trong mọi trường hợp, chúng ta cần vững lòng tin cậy vào Thiên Chúa. Người sẽ không để chúng ta phải chịu đựng quá sức chúng ta.
NGUYỆN CẦU :
LẠY CHÚA GIÊ-SU. Là nhà giảng thuyết tài năng, thế mà Chúa cũng đành chấp nhận thất bại trước sự cứng tin của người đồng hương và bà con họ hàng. Nhiều lần chúng con cũng đành phải thất bại khi bị người lương từ chối nói chuyện về Chúa và có khi họ còn thốt ra những lời xúc phạm đến Chúa và Hội Thánh… Xin ban cho chúng con ơn kiên nhẫn chịu đựng những khó khăn gặp phải trên bước đường sống và rao giảng Tin Mừng. Cho chúng con biết tạ ơn Chúa khi vui lúc buồn, khi thành công được người lắng nghe cũng như lúc bị từ chối xua đuổi. Xin cho chúng con biết không ngừng tạ ơn vì biết rằng : Thất bại là mẹ thành công, và chính Chúa xưa cũng đã từng chịu thất bại trước sự cứng tin của người đồng hương.
            X. HIỆP CÙNG MẸ MA-RI-A. -Đ. XIN CHÚA NHẬM LỜI CHÚNG CON.
LM ĐAN VINH

Gần chùa gọi Bụt bằng anh


Đức Giê-su ra khỏi đó và đến nơi quê quán của Người, có các môn đệ đi theo. Đến ngày sa-bát, Người bắt đầu giảng dạy trong hội đường. Nhiều người nghe rất đỗi ngạc nhiên. Họ nói: "Bởi đâu ông ta được như thế? Ông ta được khôn ngoan như vậy, nghĩa là làm sao? Ông ta làm được những phép lạ như thế, nghĩa là gì? Ông ta không phải là bác thợ, con bà Ma-ri-a, và anh em của các ông Gia-cô-bê, Giô-xết, Giu-đa và Si-môn sao? Chị em của ông không phải là bà con lối xóm với chúng ta sao? " Và họ vấp ngã vì Người. Đức Giê-su bảo họ: "Ngôn sứ có bị rẻ rúng, thì cũng chỉ là ở chính quê hương mình, hay giữa đám bà con thân thuộc, và trong gia đình mình mà thôi." Người đã không thể làm được phép lạ nào tại đó; Người chỉ đặt tay trên một vài bệnh nhân và chữa lành họ. Người lấy làm lạ vì họ không tin. (Mc 6,1-6)

Qua bài Tin mừng hôm nay, Chúa Giê-su muốn dạy chúng ta nhiều bài học quí giá thực tế trong đời sống Ki-tô hữu. Nhưng tôi chỉ muốn chú ý đến 2 bài học quan trọng.
Bài học thứ nhất là thành kiến. Như chúng ta biết thành kiến là một tâm trạng, thái độ lệch lạc, sai lầm rất tai hại, là một sự in sẵn, cố định trong tâm trí một đường lối, một quan niệm và một lối suy nghĩ. Bởi vậy, những người có thành kiến suy diễn, phán đoán mọi người mọi vật theo những quan niệm có sẵn trong đầu óc. Nhất là khi những tư tưởng, quan niệm hay những sự hiểu biết sai lạc đó có thể đưa đến những hậu quả không hay, gây ra những sự hiểu lầm, tranh chấp, chia rẽ nguy hại. Thật vậy như chúng ta đã hiểu biết ai đeo kính đen thì nhìn cái gì cũng tối hết, lưỡi đắng thì ăn gì cũng đắng, lòng buồn cảnh có vui đâu bao giờ. Chúng ta thường nghe: “yêu nên tốt, ghét nên xấu,” và “khi yêu nhau thì yêu cả đường đi, yêu cả những tật xấu. Ghét nhau ghét cả tông chi họ hàng.” Lòng chúng ta có khuynh hướng mạnh về điều gì, thì mắt chúng ta hay tìm, trí chúng ta hay tưởng, và rồi chúng ta phán đoán, nhận xét người khác theo khuynh hướng đó của chúng ta. Ít khi hay không bao giờ chúng ta tìm hay để ý đến những cái hay, cái tốt, hữu ích của họ, mà cảm nhận ra hay cám ơn về những ảnh hưởng đến đời sống của chính mình.
Như chúng ta biết thành kiến là một chứng bệnh di truyền kinh niên bất trị của loài người không ai thoát khỏi ngày xưa hay ngày nay cũng vậy. Chúng ta thường to tiếng chỉ trích hay kết án lối sống phô trương bên ngoài. Nhưng trên thực tế, chúng ta lại hay căn cứ vào những cái bên ngoài đó mà đánh giá người khác. Sự thực thì đánh giá một người theo phương diện bên ngoài có thể đúng nhưng cũng có thể sai lầm. Chúng ta có câu nói: “Trông mặt mà bắt hình dong.” Và ngược lại chúng ta cũng thường nghe câu nói: “Tốt gỗ hơn tốt nước sơn,” hay “Xanh vỏ mà đỏ lòng.” Cho nên, nhận xét đánh giá một người mà chỉ căn cứ vào thành kiến và bề ngoài có thể là nông nổi, thiển cận, nhiều khi phạm tội mất đức công bằng và bác ái, và gây ra những hậu quả chia rẽ, nghi ngờ trầm trọng, nguy hiểm và tai hại mà chúng ta thấy xảy ra trong nhiều cộng đoàn tôn giáo.
Tóm lại, thành kiến đã làm cho dân làng Na-da-rét nhận xét và phán đoán sai lầm về Chúa Giêsu. Họ đã không nhận ra Ngài là Đấng Cứu Thế. Đối với chúng ta cũng vậy, thành kiến có thể làm chúng ta mù quáng, không nhận định và phán đoán một cách khách quan, đúng đắn được. Thành kiến làm chúng ta không thể đối thoại, cởi mở với người khác và không nhìn thấy cái hay cái tốt nơi người khác, nhiều khi, vì thiển cận và sai lầm chúng ta còn tìm cách bới móc để xuyên tạc, vu oan, giá hoạ cho người khác. Chúng ta nghe Chúa Giê-su đã nhiều lần khiển trách người Pharisêu, biệt phái và kinh sư về thành kiến của họ.
Vì thế, là những Kitô hữu có đức tin vào Chúa, chúng ta phải cố gắng loại bỏ tất cả những thành kiến, để thứ nhất đối với cá nhân bản thân, khỏi sự tự ti mặc cảm; khỏi bị thu hẹp và nhất là tự hạ thấp giá trị con người của mình. Và thứ nhì đối với những người chung quanh, có được một cái nhìn đúng đắn hơn, trung thực hơn, có một nhận xét chân thành hơn, một phán đoán khách quan hơn, và có một đời sống yêu thương cởi mở thân mật hơn.
Bài học thứ hai là chúng ta cầu xin Chúa giúp chúng ta đừng bao giờ tự phụ và tụ nhủ là đã biết rõ Chúa. Chúng ta đi nhà thờ, chúng ta nghe về Chúa trong Tin mừng, tuyên xưng Chúa trong kinh Tin kính, chúng ta đã học một số giáo lý và về Chúa ở lớp học, chúng ta nghe hay đọc về Chúa trong các kinh, và tự xưng là biết Chúa rõ rồi. Các thánh và các người có đời sống liên hệ mật thiết thánh thiện với Chúa luôn nhắc nhở chúng ta: mọi ngày từng giây phút trong đời sống phải có tấm lòng khao khát muốn biết rõ hơn Chúa Giêsu là ai. Vậy chúng ta phải làm sao để biết Chúa hơn? Bằng bốn điều thiết yếu sau: thứ nhất cầu nguyện, thứ hai năng chịu các Bí tích, thứ ba hy sinh khiêm nhường phục vụ và thứ bốn có tấm lòng quảng đại bác ái chân thật. Chỉ có một hay chỉ có 3 không đủ.
Ông bà anh chị em thân mến. Tôi cũng phải thú nhận với mọi người, tôi cũng chưa biết Chúa đủ hay một cách rõ ràng, nhưng tôi cố gắng và cố gắng từng giờ, từng ngày, và tôi cũng biết tất cả ông bà anh chị em cũng đang cố gắng như vậy, đó là lý do tại sao chúng ta hiện diện trong Thánh lễ hôm nay.
Vì thành kiến và lòng tự phụ mà người dân tại làng Na-za-rét đã không nhận được những ơn sủng của Chúa. Xin Chúa khích động chúng ta có lòng khao khát muốn biết Chúa rõ hơn, biết loại bỏ những thành kiến, có tâm hồn chân thành và quảng đại để hứng nhận ân sủng của Chúa tuôn đổ xuống cuộc sống chúng ta.
 Lm. Antôn giáo xứ thánh Giuse, Tulsa


Thứ Bảy, 7 tháng 7, 2012

Trọng nội dung hơn hình thức


Bấy giờ, các môn đệ ông Gio-an tiến lại hỏi Đức Giê-su rằng: "Tại sao chúng tôi và các người Pha-ri-sêu ăn chay, mà môn đệ ông lại không ăn chay? " Đức Giê-su trả lời: "Chẳng lẽ khách dự tiệc cưới lại có thể than khóc, khi chàng rể còn ở với họ? Nhưng khi tới ngày chàng rể bị đem đi rồi, bấy giờ họ mới ăn chay. Chẳng ai lấy vải mới mà vá áo cũ, vì miếng vá mới sẽ co lại, khiến áo rách lại càng rách thêm. Người ta cũng không đổ rượu mới vào bầu da cũ, vì như vậy, bầu sẽ bị nứt: rượu chảy ra và bầu cũng hư. Nhưng rượu mới thì đổ vào bầu mới: thế là giữ được cả hai." (Mt 9,14-17)
Đức Giêsu đem đến những giáo huấn và tinh thần mới mẻ.
Liệu có thể ghép những cái mới đó vào cái khung của lối sống cũ không?
Bằng hai ví dụ, Ngài cho thấy điều đó khó thực hiện và gây nguy hại.
Miếng vải mới được vá vào chiếc áo cũ, sẽ co lại và làm áo rách thêm.
Rượu mới được đổ vào bầu da cũ, thì bầu sẽ bị nứt mà rượu lại chảy ra.
Đối với Đức Giêsu, muốn giữ được cả bầu lẫn rượu mới, thì cần có bầu mới.
Bầu mới chính là cách sống mới Luật Tôra của Thiên Chúa
như đã được Ngài giải thích lại trong Bài Giảng trên núi.
Kitô hữu được định nghĩa là những người luôn sống trong niềm vui,
bất chấp những bách hại và giá phải trả để làm môn đệ Đức Giêsu.
Chàng rể đã bị đem đi, nhưng Chàng rể vẫn đang ở lại (Mt 28, 20).
Bầu khí của tiệc cưới và rượu mới
vẫn là bầu khí của mọi cộng đoàn Kitô hữu hôm nay.
Cầu nguyện:
Lạy Chúa,
xin dạy con luôn tươi tắn và dịu dàng
trước mọi biến cố của cuộc sống,
khi con gặp thất vọng, gặp người hờ hững vô tâm,
hay gặp sự bất trung, bất tín
nơi những người con tin tưởng cậy dựa.
Xin giúp con gạt mình sang một bên
để nghĩ đến hạnh phúc người khác,
giấu đi những nỗi phiền muộn của mình
để tránh cho người khác phải đau khổ.
Xin dạy con biết tận dụng đau khổ con gặp trên đời,
để đau khổ làm con thêm mềm mại,
chứ không cứng cỏi hay cay đắng,
làm con nhẫn nại chứ không bực bội,
làm con rộng lòng tha thứ,
chứ không hẹp hòi hay độc đoán, cao kỳ.
Ước gì không ai sút kém đi
vì chịu ảnh hưởng của con,
không ai giảm bớt lòng thanh khiết, chân thật,
lòng cao thượng, tử tế,
chỉ vì đã là bạn đồng hành của con
trong cuộc hành trình về quê hương vĩnh cửu.
Khi con loay hoay với bao nỗi lo âu bối rối,
xin cho con có lúc
thì thầm với Chúa một lời yêu thương.
Ước chi đời con là cuộc đời siêu nhiên,
tràn trề sức mạnh để làm việc thiện,
và kiên quyết nhắm tới lý tưởng nên thánh. Amen.
(dịch theo Learning Christ)
Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, S.J.

Thứ Sáu, 6 tháng 7, 2012

Tôi đến để kêu gọi người tội lỗi


Đức Giê-su đi ngang qua trạm thu thuế, thì thấy một người tên là Mát-thêu đang ngồi tại trạm. Người bảo ông: "Anh hãy theo tôi! " Ông đứng dậy đi theo Người.
Khi Đức Giê-su đang dùng bữa tại nhà ông ấy, có nhiều người thu thuế và tội lỗi kéo đến, cùng ăn với Người và các môn đệ. Thấy vậy, những người Pha-ri-sêu nói với các môn đệ Người rằng: "Sao Thầy các anh lại ăn uống với bọn thu thuế, và quân tội lỗi như vậy? " Nghe thấy thế, Đức Giê-su nói: "Người khoẻ mạnh không cần thầy thuốc, người đau ốm mới cần. Hãy về học cho biết ý nghĩa của câu này: "Ta muốn lòng nhân chứ đâu cần lễ tế. Vì tôi không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi."
                          (Mt 9,9-13)
Hôm nay lễ THÁNH MARIA GORETTI, TRINH NỮ TỬ ĐẠO

TIỂU SỬ
THÁNH MARIA GORETTI, TRINH NỮ TỬ ĐẠO
(16.10.1890 - 06.07.1902)


Teresa Maria Goretti sinh ngày 16.10.1890 tai Corina, một làng nhỏ thuộc nước Ý. Goretti được sinh ra trong một gia đình Công giáo đạo đức, thanh cao. Ông Luygi cha của Goretti, một người cha cần cù, biết nhìn xa trông rộng mọi cảnh huống trong gia đình. Bà Axunta, một người mẹ hiền hậu, bao giờ cũng tỏ ra thương chồng và yêu các con.
Năm lên 9 tuổi, Goretti theo cha mẹ sang Phêri để sinh sống cho cuộc sống đỡ chật vật hơn. Nhưng không may, mới ở Phêri được một năm thì cha em đã qua đời vì bệnh tật. Cái chết đau thương của người cha thân yêu đã ghi sâu trong tâm trí em kể từ ngày ấy và luôn luôn cô cầu nguyện cho cha mình. Thời gian lặng lẽ trôi, anh trai, Goretti và các em sống trong tình cảnh mồ côi cha, luôn túng bấn và thiếu gạo ăn.

Hằng ngày mẹ và anh phải ra đồng, còn Goretti ở nhà trông các em và cơm nước. Em thay mẹ lo mọi việc trong nhà, nên chỉ mới 12 tuôi đầu mà em đã rất đảm đang và quán xuyến. Ai nhìn em cũng phải khen em thật là xinh, khuôn mặt trái xoan, mũi cao, trán cao, tóc đen và dài, em có đôi môi đỏ và thân hình đang tuổi dậy thì. Vì hoàn cảnh túng thiếu, nghèo khó nên từ nhỏ em đã không được đến trường học. Em không biết viết cũng không biết đọc, chỉ thuộc những kinh nguyện do mẹ dạy vào những buổi chiều hay buổi tối trước khi đi ngủ.
Mãi tới năm 12 tuổi, Goretti mới được rước lễ lần đầu tại nhà thờ Netturo cách làng Phêri 12km. Sung sướng và hạnh phúc biết bao đã từ lâu lắm em mong ước có ngày này, được rước Chúa vào lòng. Em đã thầm cầu nguyện, xin ơn cho người cha đã qua đời, xin cho mẹ đỡ vất vả để nuôi dạy các con nên người, và nhất là em đã xin Chúa cho em có một tâm hồn trong trắng, chăm chỉ làm việc, sống đạo đức và ngoan ngoãn.
Ngay bên cạnh nhà Goretti gia đình ông Xeren, ông Xeren có cậu con trai 17 tuổi là Alexander. Mồ côi mẹ từ khi mới vừa sinh ra nên Alexander đã sống thiếu tình mẹ xa tình cha: tâm hồn anh trống rỗng, lầm lì, thiếu văn hóa. Ông bà Luygi rất nhiều lần không nén lòng nổi kêu trách về Alexander thì ông Xeren cũng chẳng quan tâm mà dạy bảo gì. Điều đó làm cho ông bà Luygi muốn sớm đưa gia đình mình về lại Corina sống để tránh cho các con học đòi theo những thói hư của Alexander.
Rồi một chiều thứ bảy, sau khi đọc kinh xong, Goretti đang lúi húi sửa lại những bông hoa cắm trong bình và thay những cây nến mới. Alexander sang bên nhà muốn nhờ Goretti khâu lại khuy của chiếc áo sơ mi, Goretti nhận lời Alexander sang sửa giúp chiếc áo vì lòng bác ái. Anh đứng nhìn Goretti khâu áo, thì lúc này trong tâm trí anh nhận thấy Goretti là một thiếu nữ xinh đẹp hơn là thánh thiện. Anh muốn yêu cô và ước mong được sống gần cô. Không thể kiềm chế nổi mình, ngay khi Goretti vừa cất kim chỉ đi thì anh đã chạy lại ôm lấy cô và cố hôn lên đôi má bầu bĩnh của cô. Goretti thấy cử chỉ sàm sỡ của Alexander liền chống cự và đẩy anh ra. Thấy mình bị Goretti chống cự anh bỏ ra và hăm dọa nếu cô nói với ai biết chuyện này thì cô sẽ bị mất mạng.
Goretti hoảng sợ vội chạy ra vườn, trong lòng em buồn sầu và bối rối. Em mong được đi xưng tội ngay.
Mấy tháng êm đêm trôi qua, mùa hè đến. Chiều hôm đó trời như sắp có giông, bà Axunta giục con trai và cậu Alexander nhanh chóng thu lúa đang phơi ngoài bãi vào kho. Goretti ở lại cho em bé út ngủ và chuẩn bị cơm chiều. Alexander còn nấn ná muốn trò chuyện với Goretti và lại nhờ Goretti vá lại chiếc áo vừa bị rách, anh chạy về phòng lấy để đưa cho Goretti làm rồi anh ra sân. Một lúc sau anh nghĩ, chỉ có mình Goretti ở nhà và đây là dịp tốt để gần cô, anh nhờ bà Axunta coi bò giúp đẻ anh về nhà. Anh vào nhà thì thấy Goretti vẫn đang lúi húi khâu vá. Với tay cầm con dao cắt hoa quả để trên bàn, anh chỉ định dùng để dọa nếu lần này Goretti lại kháng cự. Anh gọi Goretti sang phòng anh, nhưng Goretti lưỡng lự không sang, anh liền tới nắm lấy tay cô và kéo sang. Goretti sợ hãi kêu cứu, liền đó anh đưa dao lên kề vào cổ cô mà dọa. Alexander vẫn chờ đợi sự ưng thuận của Goretti, còn Goretti một mực chống cự lại, trong lúc tức giận không kiềm chế nổi hành vi của mình anh đã đâm liên tiếp tám nhát dao vào ngực Goretti. Goretti quị xuống cố lết ra ngoài cửa, Alxender đuổi theo đâm tiếp bốn nhát dao nữa trên người Goretti rồi thất thần ném con dao đi rồi gục xuống bên Goretti.
Đúng lúc đó ông Xeren đi vào nhà chợt nhìn thấy Goretti nằm trên vũng máu liền kêu lớn tiếng để mọi người tới giúp. Tiếng Goretti rên rỉ trong đau đớn:
-  Chính… chính Alexander, Lạy Chúa… con chết mất!
Mọi người chạy đi gọi bác sĩ và cảnh sát, Alexander thì bị giữ lại nhốt vào phòng chờ cảnh sát đến.
Bác sĩ đến và xơ cứu vết thương rồi vội đưa em vào bệnh viện ngay để giải phẫu. Các bác sĩ đều thất vọng vì nhiều vết thương quá sâu và máu bị chảy ra quá nhiều, khó lòng em có thể sống qua được đến ngày mai.
Sáng sớm hôm sau, Cha Tuyên Úy đến làm các phép cho em, em nhận ra cha, nét mặt tươi vui:
-  Cha của con!
-  Con yêu dấu! Con bớt đau chưa? Con ạ, đau đớn là hạnh phúc cho con, nếu con vui nhận vì Chúa.
-  Vâng, thưa Cha.
Ba giờ chiều cùng ngày, đôi môi em vẫn mấp máy câu nguyện rồi bỗng nhiên em uốn người kêu lớn tiếng:
-  Alexander! Không được làm thế! Sa hỏa ngục đó.
Người em lịm dần, em ngừng thở nhưng nét mặt vẫn xinh tươi như bông hoa vừa được ngắt đi.
Đúng sáng ngày 08.07.1902 thánh lễ an táng Goretti được cử hành trọng thể. Rất đông người dân trong thành kéo nhau về tham dự. Mọi người đều rất thương nhớ và cảm kích lòng dũng cảm của em.
Trên bia mộ  của em được ghi hàng chữ:

MARIA GORETTI
THIẾU NỮ 12 XUÂN XANH
Sinh ngày 16.10.1890
đã tạ thế ngày 06.07.1902
Vì bảo toàn bông huệ khiết trinh

Ngày 24.04.1947 tại Đền Thờ thánh Phêrô, Đức Giáo Hoàng Piô đã phong Chân Phước cho Maria Goretti.
Ngay 24.06.1950 Chân Phước Maria Goretti được vinh quang hiển thánh, Thánh Trinh Nữ Tử Đạo.

Nguồn Tổng hợp & Sưu tầm






Thứ Năm, 5 tháng 7, 2012

Con đã được tha tội rồi


Đức Giê-su xuống thuyền, băng qua hồ, trở về thành của mình. Người ta liền khiêng đến cho Người một kẻ bại liệt nằm trên giường. Thấy họ có lòng tin như vậy, Đức Giê-su bảo người bại liệt: "Này con, cứ yên tâm, con đã được tha tội rồi! " Có mấy kinh sư nghĩ bụng rằng: "Ông này nói phạm thượng." Nhưng Đức Giê-su biết ý nghĩ của họ, liền nói: "Sao các ông lại nghĩ xấu trong bụng như vậy? Trong hai điều: một là bảo: "Con đã được tha tội rồi", hai là bảo: "Đứng dậy mà đi", điều nào dễ hơn? Vậy, để các ông biết: ở dưới đất này, Con Người có quyền tha tội - bấy giờ Đức Giê-su bảo người bại liệt: "Đứng dậy, vác giường đi về nhà! " Người bại liệt đứng dậy, đi về nhà. Thấy vậy, dân chúng sợ hãi và tôn vinh Thiên Chúa đã ban cho loài người được quyền năng như thế. (Mt 9,1-8)

Thứ Tư, 4 tháng 7, 2012

Chúa chữa lành cho người bị quỷ ám


Khi Đức Giê-su sang bờ bên kia, và đến miền Ga-đa-ra, thì có hai người bị quỷ ám từ trong đám mồ mả ra đón Người; chúng rất dữ tợn, đến nỗi không ai dám qua lại lối ấy. Chúng la lên rằng: "Hỡi Con Thiên Chúa, chuyện chúng tôi can gì đến ông? Chưa tới lúc mà ông đã đến đây làm khổ chúng tôi sao?" Khi ấy, ở đàng xa, có một bầy heo rất đông đang ăn. Bọn quỷ nài xin Người rằng: "Nếu ông đuổi chúng tôi, thì xin sai chúng tôi nhập vào bầy heo kia." Người bảo: "Đi đi! " Chúng liền ra khỏi hai người đó và nhập vào bầy heo. Thế là tất cả bầy heo từ trên sườn núi lao xuống biển và chết đuối hết. Các người chăn heo chạy trốn vào thành, kể lại mọi sự, và những gì đã xảy ra cho những người bị quỷ ám. Bấy giờ, cả thành ra đón Đức Giê-su, và khi gặp Người, họ xin Người rời khỏi vùng đất của họ. (Mt 8,28-34)

Thứ Ba, 3 tháng 7, 2012

Phúc thay những người không thấy mà tin


Một người trong Nhóm Mười Hai, tên là Tô-ma, cũng gọi là Đi-đy-mô, không ở với các ông khi Đức Giê-su đến. Các môn đệ khác nói với ông: "Chúng tôi đã được thấy Chúa!" Ông Tô-ma đáp: "Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Người, tôi chẳng có tin." Tám ngày sau, các môn đệ Đức Giê-su lại có mặt trong nhà, có cả ông Tô-ma ở đó với các ông. Các cửa đều đóng kín. Đức Giê-su đến, đứng giữa các ông và nói: "Bình an cho anh em." Rồi Người bảo ông Tô-ma: "Đặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy. Đưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy. Đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin." Ông Tô-ma thưa Người: "Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con! " Đức Giê-su bảo: "Vì đã thấy Thầy, nên anh tin. Phúc thay những người không thấy mà tin! "










Thứ Hai, 2 tháng 7, 2012

Theo Chúa









Theo Chúa phải từ bỏ tất cả


Thấy xung quanh có đám đông, Đức Giê-su ra lệnh sang bờ bên kia. Một kinh sư tiến đến thưa Người rằng: "Thưa Thầy, Thầy đi đâu, tôi cũng xin đi theo." Đức Giê-su trả lời: "Con chồn có hang, chim trời có tổ, nhưng Con Người không có chỗ tựa đầu."
Một môn đệ khác thưa với Người: "Thưa Ngài, xin cho phép con về chôn cất cha con trước đã." Đức Giê-su bảo: "Anh hãy đi theo tôi, cứ để kẻ chết chôn kẻ chết của họ."  (Mt 8,18-22)

Đừng tưởng rằng châu á chúng ta thì lạc quan hơn, có lẽ tỷ lệ người đi lễ thì còn khá đấy, cách đây 2 tuần tôi đi họp ở Thái Lan với các chủ tịch Hội Đồng Giám mục ở Châu Á, thì đã gióng lên tiếng nói tình trạng khá đông người Công giáo bỏ Giáo Hội để chuyển sang các giáo hội khác, như Tin Lành …, con số đó ở châu mỹ la tinh còn lớn hơn ở Châu Á chúng ta. 

Nếu chúng ta đặt câu hỏi tại làm sao mà đời sống đức tin lại sút giảm như thế, thì bên cạnh nhiều lý do về mặt xã hội, tâm lý, văn hoá, tôi thấy bài Tin Mừng hôm nay đưa ra một câu trả lời, lý do chính yếu là sự đòi hỏi của Tin Mừng, đòi hỏi của Chúa Giêsu là một đòi hỏi mang tính triệt để mà con người ta không dễ chấp nhận, con người ta ai mà không đi tìm sự an ninh, trong khi đó Chúa Giêsu lại nói với người ta "Con chồn có hang, chim trời có tổ, nhưng Con Người không có chỗ tựa đầu", thế thì ai mà thèm theo. 

Xét về mặt marketing thì Chúa Giêsu rất dở, thời buổi marketing muốn ai mua hàng, muốn ai đi theo mình người ta phải nói thật là đẹp, thật là hay, bao bì sáng rỡ thì người ta mới mua. Đằng này có ông nào muốn người ta đi theo mình lại bảo: Con chồn có hang, chim trời có tổ, nhưng Con Người không có chỗ tựa đầu, điều đó chứng tỏ Người rất thẳng thắn, đòi hỏi triệt để. 

Tiếp đó, các anh chị thử đặt mình vào trong văn hoá Việt Nam, quý trọng đời sống gia đình, tôn kính cha mẹ, lại có một người nói rằng: "Thưa Ngài, xin cho phép con về chôn cất cha con trước đã." Đức Giê-su bảo: "Anh hãy đi theo tôi, cứ để kẻ chết chôn kẻ chết của họ.", thế thì Việt Nam ai muốn đi theo. Nói như thế để thấy đòi hỏi của Chúa Giêsu là đòi hỏi mang tính triệt để. 
Như thế, người muốn chuyển giao niềm tin vào Đức Giêsu Kitô và vào Tin Mừng của Ngài cho người khác, thì phải có chứng tá bản thân về đời sống đức tin, nói cách khác phải có chứng tá bản thân về sự từ bỏ. Thời đại chúng ta đang sống không phải chỉ đòi hỏi chứng tá về sự từ bỏ, mà còn cả lý lẽ của lòng tin thời đại của văn hoá, khoa học, người ta đưa ra lý lẽ để biện minh cho lối sống của người ta, người ta đưa ra lý lẽ để phi bác Tin Mừng, để phủ nhận lời mời gọi của Phúc Âm.
Nếu mình muốn chuyển giao đức tin, nói như thánh Phaolô “Anh em hãy sẵn sàng trả lời cho bất cứ ai chất vấn về niềm hy vọng đang có trong anh em, nhưng phải trả lời với sự hiền hoà và lòng kính trọng.” Chúng ta phải sẵn sàng trả lời, phải sẵn sàng cung cấp những lý lẽ của lòng tin, của niềm hy vọng nơi chúng ta, và chính vì thế chúng ta đi học thần học.
(Theo bài giảng của Đức cha Phêrô Nguyễn Văn Khảm ngày 02/7/2012 tại TTMV TGPTPHCM)