Khi ấy, Các Tông Đồ tụ họp chung
quanh Đức Giê-su, và kể lại cho Người biết mọi việc các ông đã làm, và mọi điều
các ông đã dạy. Người bảo các ông: "Anh em hãy lánh riêng ra, đến một nơi
thanh vắng mà nghỉ ngơi đôi chút." Quả thế, kẻ lui người tới quá đông, nên
các ông cũng chẳng có thì giờ ăn uống nữa. Vậy, thầy trò xuống thuyền đi lánh
riêng ra một nơi hoang vắng. Thấy các ngài ra đi, nhiều người hiểu ý, nên từ
khắp các thành, họ cùng nhau theo đường bộ chạy đến nơi, trước cả các ngài. Ra
khỏi thuyền, Đức Giê-su thấy một đám người rất đông thì chạnh lòng thương, vì
họ như bầy chiên không người chăn dắt. Và Người bắt đầu dạy dỗ họ nhiều điều. (Mc
6, 30-34)
Tìm kiếm Blog này
Thứ Bảy, 9 tháng 2, 2013
Con xin gì, ta cũng cho
Khi ấy, Vua Hê-rô-đê nghe biết về
Đức Giê-su, vì Người đã nổi danh. Có kẻ nói: "Đó là ông Gio-an Tẩy Giả từ
cõi chết trỗi dậy, nên mới có quyền năng làm phép lạ." Kẻ khác nói:
"Đó là ông Ê-li-a." Kẻ khác nữa lại nói: "Đó là một ngôn sứ như
một trong các ngôn sứ." Vua Hê-rô-đê nghe thế, liền nói: "Ông Gio-an,
ta đã cho chém đầu, chính ông đã trỗi dậy! "
Số là vua Hê-rô-đê đã sai người đi bắt ông Gio-an và xiềng ông trong ngục.
Lý do là vì vua đã lấy bà Hê-rô-đi-a, vợ của người anh là Phi-líp-phê, mà ông
Gio-an lại bảo: "Ngài không được phép lấy vợ của anh ngài! " Bà
Hê-rô-đi-a căm thù ông Gio-an và muốn giết ông, nhưng không được. Thật vậy, vua
Hê-rô-đê biết ông Gio-an là người công chính thánh thiện, nên sợ ông, và còn
che chở ông. Nghe ông nói, nhà vua rất phân vân, nhưng lại cứ thích nghe.
Một ngày
thuận lợi đến: nhân dịp mừng sinh nhật của mình, vua Hê-rô-đê mở tiệc thết đãi
bá quan văn võ và các thân hào miền Ga-li-lê. Con gái bà Hê-rô-đi-a vào biểu
diễn một điệu vũ, làm cho nhà vua và khách dự tiệc vui thích. Nhà vua nói với
cô gái: "Con muốn gì thì cứ xin, ta sẽ ban cho con." Vua lại còn thề:
"Con xin gì, ta cũng cho, dù một nửa nước của ta cũng được." Cô gái
đi ra hỏi mẹ: "Con nên xin gì đây? " Mẹ cô nói: "Đầu Gio-an Tẩy
Giả." Lập tức cô vội trở vào đến bên nhà vua và xin rằng: "Con muốn
ngài ban ngay cho con cái đầu ông Gio-an Tẩy Giả, đặt trên mâm." Nhà vua
buồn lắm, nhưng vì đã trót thề, lại thề trước khách dự tiệc, nên không muốn
thất hứa với cô. Lập tức, vua sai thị vệ đi và truyền mang đầu ông Gio-an tới.
Thị vệ ra đi, chặt đầu ông ở trong ngục, bưng đầu ông trên một cái mâm trao cho
cô gái, và cô gái trao cho mẹ. Nghe tin ấy, môn đệ đến lấy thi hài ông và đặt
trong một ngôi mộ. (Mc 6,14-29)Sai đi
Khi ấy, Đức Giêsu gọi Nhóm Mười Hai lại và bắt đầu sai đi từng hai người một. Người ban cho
các ông quyền trên các thần ô uế. Người chỉ thị cho các ông không được mang gì
đi đường, chỉ trừ cây gậy; không được mang lương thực, bao bị, tiền giắt lưng; được
đi dép, nhưng không được mặc hai áo. Người bảo các ông: "Bất cứ ở đâu, khi
anh em đã vào nhà nào, thì hãy ở lại đó cho đến lúc ra đi. Còn nơi nào người ta
không đón tiếp và không nghe lời anh em, thì khi ra khỏi đó, hãy giũ bụi đất
dưới chân để tỏ ý cảnh cáo họ." Các ông đi rao giảng, kêu gọi người ta ăn
năn sám hối. Các ông trừ được nhiều quỷ, xức dầu cho nhiều người đau ốm và chữa
họ khỏi bệnh. (Mc 6,7-13)
Thứ Hai, 4 tháng 2, 2013
Chúa trừ quỷ
Khi ấy, Đức
Giê-su và các môn đệ sang bờ bên kia Biển Hồ, đến vùng đất của dân Ghê-ra-sa. Người vừa
ra khỏi thuyền, thì từ đám mồ mả, có một kẻ bị thần ô uế ám liền ra đón Người.
Anh này thường sống trong đám mồ mả và không ai có thể trói anh ta lại được, dầu
phải dùng đến cả xiềng xích. Thật vậy, nhiều lần anh bị gông cùm và bị xiềng
xích, nhưng anh đã bẻ gãy xiềng xích, và đập tan gông cùm. Và không ai có thể
kiềm chế anh được. Suốt đêm ngày, anh ta cứ ở trong đám mồ mả và trên núi đồi,
tru tréo và lấy đá rạch mình. Thấy Đức Giê-su tự đàng xa, anh ta chạy đến bái lạy
Người và kêu lớn tiếng rằng: "Lạy ông Giê-su, Con Thiên Chúa Tối Cao, chuyện
tôi can gì đến ông? Nhân danh Thiên Chúa, tôi van ông đừng hành hạ tôi! "
Thật vậy, Đức Giê-su đã bảo nó: "Thần ô uế kia, xuất khỏi người này!
" Người hỏi nó: "Tên ngươi là gì? " Nó thưa: "Tên tôi là đạo
binh, vì chúng tôi đông lắm." Nó khẩn khoản nài xin Người đừng đuổi chúng
ra khỏi vùng ấy. Ở đó có một bầy heo rất đông đang ăn bên sườn núi. Đám thần ô
uế nài xin Người rằng: "Xin sai chúng tôi đến nhập vào những con heo
kia." Người cho phép. Chúng xuất khỏi người đó và nhập vào bầy heo. Cả bầy
heo -chừng hai ngàn con- từ trên sườn núi lao xuống biển và chết ngộp dưới đó.
Các kẻ chăn heo bỏ chạy, loan tin trong thành và thôn xóm. Thiên hạ đến xem việc
gì đã xảy ra. Họ đến cùng Đức Giê-su và thấy kẻ bị quỷ ám ngồi đó, ăn mặc hẳn
hoi và trí khôn tỉnh táo -chính người này đã bị đạo binh quỷ nhập vào. Họ phát
sợ. Những người chứng kiến đã kể lại cho họ nghe việc đã xảy ra thế nào cho người
bị quỷ ám và chuyện bầy heo. Bấy giờ họ lên tiếng nài xin Người rời khỏi vùng đất
của họ.
Khi Người xuống thuyền, thì kẻ trước kia đã bị quỷ ám
nài xin cho được ở với Người. Nhưng Người không cho phép, Người bảo: "Anh
cứ về nhà với thân nhân, và thuật lại cho họ biết mọi điều Chúa đã làm cho anh,
và Người đã thương anh như thế nào." Anh ta ra đi và bắt đầu rao truyền
trong miền Thập Tỉnh tất cả những gì Đức Giê-su đã làm cho anh. Ai nấy đều kinh
ngạc.
(Mc 5,1-20)
Ghen tị
Hôm ấy, tại Hội đường
Na-da-rét, sau khi đọc sách ngôn sứ I-sai-a, Đức Giêsu bắt
đầu nói với họ: "Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh tai quý vị vừa nghe." Mọi người đều
tán thành và thán phục những lời hay ý đẹp thốt ra từ miệng Người.
Người nói với họ: "Hẳn là các ông muốn nói với tôi
câu tục ngữ: Thầy lang ơi, hãy chữa lấy mình! Tất cả những gì chúng tôi nghe
nói ông đã làm tại Ca-phác-na-um, ông cũng hãy làm tại đây, tại quê ông xem
nào! " Người nói tiếp: "Tôi bảo thật các ông: không một ngôn sứ nào
được chấp nhận tại quê hương mình.
"Thật vậy, tôi nói cho các ông hay: vào thời ông
Ê-li-a, khi trời hạn hán suốt ba năm sáu tháng, cả nước phải đói kém dữ dội,
thiếu gì bà goá ở trong nước Ít-ra-en; thế mà ông không được sai đến giúp một
bà nào cả, nhưng chỉ được sai đến giúp bà goá thành Xa-rép-ta miền Xi-đôn. Cũng
vậy, vào thời ngôn sứ Ê-li-sa, thiếu gì người phong hủi ở trong nước Ít-ra-en,
nhưng không người nào được sạch, mà chỉ có ông Na-a-man, người xứ Xy-ri
thôi."
Nghe vậy, mọi người trong hội đường đầy phẫn nộ. Họ đứng
dậy, lôi Người ra khỏi thành -thành này được xây trên núi. Họ kéo Người lên tận
đỉnh núi, để xô Người xuống vực. Nhưng Người băng qua giữa họ mà đi.
Chủ Nhật, 3 tháng 2, 2013
Dâng con trong đền thờ
Khi đã đến ngày lễ thanh tẩy của các ngài theo luật Mô-sê, bà Ma-ri-a và
ông Giu-se đem con lên Giê-ru-sa-lem, để tiến dâng cho Chúa, như đã chép trong
Luật Chúa rằng: "Mọi con trai đầu lòng phải được gọi là của thánh, dành
cho Chúa", và cũng để dâng của lễ theo Luật Chúa truyền, là một đôi chim
gáy hay một cặp bồ câu non. Hồi ấy ở Giê-ru-sa-lem, có một người tên là
Si-mê-ôn. Ông là người công chính và sùng đạo, ông những mong chờ niềm an ủi
của Ít-ra-en, và Thánh Thần hằng ngự trên ông. Ông đã được Thánh Thần linh báo
cho biết là ông sẽ không thấy cái chết trước khi được thấy Đấng Ki-tô của Đức
Chúa. Được Thần Khí thúc đẩy, ông lên Đền Thờ. Vào lúc cha mẹ Hài Nhi Giê-su
đem con tới để chu toàn tập tục Luật đã truyền liên quan đến Người, thì ông ẵm
lấy Hài Nhi trên tay, và chúc tụng Thiên Chúa rằng:
"Muôn lạy Chúa, giờ đây
theo lời Ngài đã hứa,
xin để tôi tớ này được an bình ra đi.
theo lời Ngài đã hứa,
xin để tôi tớ này được an bình ra đi.
Vì chính mắt con được thấy ơn cứu độ
Chúa đã dành sẵn cho muôn dân:
Chúa đã dành sẵn cho muôn dân:
Đó là ánh sáng soi đường cho dân ngoại,
là vinh quang của Ít-ra-en Dân Ngài."
là vinh quang của Ít-ra-en Dân Ngài."
Cha và mẹ Hài Nhi ngạc nhiên vì những lời ông Si-mê-ôn vừa nói về Người.
Ông Si-mê-ôn chúc phúc cho hai ông bà, và nói với bà Ma-ri-a, mẹ của Hài Nhi:
"Thiên Chúa đã đặt cháu bé này làm duyên cớ cho nhiều người Ít-ra-en ngã
xuống hay đứng lên. Cháu còn là dấu hiệu cho người đời chống báng; và như vậy,
những ý nghĩ từ thâm tâm nhiều người sẽ lộ ra. Còn chính bà, một lưỡi gươm sẽ
đâm thâu tâm hồn bà."
Lại cũng có một nữ ngôn sứ tên là An-na, con ông Pơ-nu-ên, thuộc chi tộc
A-se. Bà đã nhiều tuổi lắm. Từ khi xuất giá, bà đã sống với chồng được bảy năm,
rồi ở goá, đến nay đã tám mươi tư tuổi. Bà không rời bỏ Đền Thờ, những ăn chay
cầu nguyện, sớm hôm thờ phượng Thiên Chúa. Cũng vào lúc ấy, bà tiến lại gần
bên, cảm tạ Thiên Chúa, và nói về Hài Nhi cho hết những ai đang mong chờ ngày
Thiên Chúa cứu chuộc Giê-ru-sa-lem.
Khi hai ông bà đã làm xong mọi việc
như Luật Chúa truyền, thì trở về nơi cư ngụ là thành Na-da-rét, miền Ga-li-lê.
Còn Hài Nhi ngày càng lớn lên, thêm vững mạnh, đầy khôn ngoan, và hằng được ân
nghĩa cùng Thiên Chúa.
Thứ Năm, 31 tháng 1, 2013
Nước Thiên Chúa
Khi ấy, Đức Giêsu nói với dân chúng dụ ngôn này: "Chuyện Nước Thiên Chúa thì
cũng tựa như chuyện một người vãi hạt giống xuống đất. Đêm hay ngày, người ấy
có ngủ hay thức, thì hạt giống vẫn nẩy mầm và mọc lên, bằng cách nào, thì người
ấy không biết. Đất tự động sinh ra hoa kết quả: trước hết cây lúa mọc lên, rồi
trổ đòng đòng, và sau cùng thành bông lúa nặng trĩu hạt. Lúa vừa chín, người ấy
đem liềm ra gặt, vì đã đến mùa."
Rồi Người lại nói: "Chúng ta ví Nước Thiên Chúa với cái gì đây? Lấy dụ
ngôn nào mà hình dung được? Nước Thiên Chúa giống như hạt cải, lúc gieo xuống
đất, nó là loại hạt nhỏ nhất trong các hạt giống trên mặt đất. Nhưng khi gieo
rồi, thì nó mọc lên lớn hơn mọi thứ rau cỏ, cành lá xum xuê, đến nỗi chim trời
có thể làm tổ dưới bóng."
Người dùng nhiều dụ ngôn tương tự mà giảng lời cho họ, tuỳ theo mức họ có
thể nghe. Người không bao giờ nói với họ mà không dùng dụ ngôn. Nhưng khi chỉ
có thầy trò với nhau, thì Người giải nghĩa hết. (Mc 4,26-34)
Không gì dấu được
Khi ấy, Đức Giêsu nói
với các môn đệ rằng:
"Chẳng lẽ mang đèn tới để đặt dưới cái thùng hay dưới gầm giường? Nào chẳng
phải là để đặt trên đế sao? Vì chẳng có gì che giấu mà không được tỏ lộ, chẳng
có gì bí ẩn mà không được đưa ra ánh sáng. Ai có tai để nghe thì hãy nghe!
"
Người nói với các ông: "Hãy để ý tới điều anh em
nghe. Anh em đong đấu nào, thì Thiên Chúa cũng sẽ đong đấu ấy cho anh em, và
còn cho anh em hơn nữa. Vì ai đã có, thì được cho thêm; còn ai không có, thì
ngay cái đang có cũng sẽ bị lấy đi."
Thứ Hai, 28 tháng 1, 2013
Thánh TÔMA AQUINÔ
Khi ấy, các kinh sư từ Giê-ru-sa-lem
xuống, nói về Đức Giêsu rằng: Người bị quỷ vương Bê-en-dê-bun ám, và Người dựa
thế quỷ vương mà trừ quỷ.
Đức
Giêsu liền gọi họ đến, dùng dụ ngôn mà nói với họ: "Xa-tan làm sao trừ
Xa-tan được? Nước nào tự chia rẽ, nước ấy không thể bền; nhà nào tự chia rẽ,
nhà ấy không thể vững. Vậy Xa-tan mà chống Xa-tan, Xa-tan mà tự chia rẽ, thì
không thể tồn tại, nhưng đã tận số. Không ai có thể vào nhà kẻ mạnh mà cướp của
được, nếu không trói kẻ mạnh ấy trước
đã, rồi mới cướp sạch nhà nó.
"Tôi
bảo thật các ông: mọi tội lỗi và lời phạm thượng, dù nói phạm thượng nhiều đến
mấy đi nữa, thì cũng sẽ được tha cho con cái loài người. Nhưng ai nói phạm đến
Thánh Thần, thì chẳng đời nào được tha, mà còn mắc tội muôn đời". Đó là vì
họ đã nói "ông ấy bị thần ô uế ám."
Thứ Bảy, 26 tháng 1, 2013
Tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn
Đức Giê-su cuộn sách lại, trả cho người giúp việc hội đường, rồi ngồi xuống. Ai nấy trong hội đường đều chăm chú nhìn Người. Người bắt đầu nói với họ: "Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh quý vị vừa nghe."
GƯƠNG TRUYỀN GIÁO CỦA GIÁO HỘI ẤN ĐỘ
Giáo Hội Công Giáo Ấn Độ có 3 nghi lễ:
La-Tinh, Siro-Malabar và Siro-Malankara. Điểm nổi bật là sự có mặt của các Hội
Thừa Sai, trong đó có Hội Thừa Sai Thánh Toma Tông Đồ của Giáo Hội Công Giáo
Siro-Malabar nghi lễ đông phương. Hội có trụ sở tại bang Kerala, miền Nam Ấn
Độ.
+++
Hội Thừa Sai thánh Toma Tông Đồ được thành lập vào năm 1965, ban đầu dưới hình thức một Hội quy tụ
các Linh Mục triều. Ba năm sau, Hội trở thành Hội Thừa Sai thánh Toma Tông Đồ
có quy luật hẳn hoi. Ngày 22-2-1968, Hội chính thức ra mắt với sự hiện diện của
Đức Hồng Y Furstenberg, Tổng Trưởng Bộ các Giáo Hội Đông Phương, và tất cả các
Giám Mục của Giáo Hội Công Giáo Siro-Malabar nghi lễ Đông Phương.
Từ đó, Hội không ngừng phát triển. Bắt
đầu với con số khiêm tốn 18 thành viên, ngày nay, Hội có hơn 200 Linh Mục thành
viên, cộng với gần 200 Chủng Sinh. 75% các thành viên là Linh Mục dưới 40 tuổi.
Các Linh Mục có tinh thần truyền giáo thật cao và rất mong muốn được gửi đi
truyền giáo.
Hội Thừa Sai thánh Toma Tông Đồ có ba cứ
điểm truyền giáo tại miền Bắc, nằm trong lãnh thổ của hai tôn giáo lớn là Ấn
giáo và Phật giáo. Do đó, công cuộc truyền giáo gặp rất nhiều cam go và chống
đối của tín đồ Ấn giáo. Cha Sebastian Vadakel, Bề Trên tổng quyền của Hội,
nói:
- “Rất thường khi chúng tôi mở một cứ
điểm truyền giáo mà không có tín hữu Công Giáo nào. Nhưng chúng tôi không dấu
diếm hoặc ngần ngại tỏ ra mình là tín hữu Công Giáo, Linh Mục và Thừa Sai. Trái
với thói quen ở Kerala, nơi các cứ điểm truyền giáo, chúng tôi không mang áo
chùng thâm khi đi ra ngoài, nhưng chỉ mặc y phục Linh Mục khi cử hành các nghi
lễ Phụng Vụ thánh. Chúng tôi tiếp xúc với dân chúng qua các hoạt động xã hội:
tổ chức các dịch vụ trong làng; thăng tiến nữ giới; bệnh xá; trường học v.v.
Chúng tôi không bị ràng buộc vào bất cứ hình thức hiện diện đặc thù nào, nhưng
thay đổi tùy theo nhu cầu và hoàn cảnh.”
Ujjain là cứ điểm truyền giáo đầu tiên
của Hội Thừa Sai thánh Toma Tông Đồ và được mở vào năm 1968. Lúc đầu, cứ điểm
chỉ có một giáo xứ duy nhất. Hiện nay Ujjain có đến 34 giáo xứ với 55 Linh Mục
và 162 nữ tu thuộc 11 Hội Dòng khác nhau.
+++
Linh mục Anto Kudukkamthadam là Cha Sở giáo xứ Piploda. Vốn liếng kiến thức về xã hội học đã giúp
Cha Anto biết rõ địa hình địa thế của xứ đạo. Theo Cha, có từ 5-7% dân làng là
người giàu, 10% là giới trung lưu, còn lại 80% là người nghèo. Thế nhưng, Cha
Anto nói:
- Vị Linh Mục tu sĩ nào dám công khai
lên tiếng tố giác hố sâu bất công này thì tính mạng bị lâm nguy. Nữ tu Rani
Maria bị ám sát cách dã man chỉ vì Chị hoạt động xã hội, khuyến khích các bà
các cô biết tự tổ chức, phân định các hoàn cảnh và làm việc chung với nhau.
Hoạt động của Chị Rani Maria mang lại kết quả tốt đẹp. Nhưng kết quả tốt đẹp
lại gây khó chịu cho giới giàu có trong làng và họ thuê người giết Chị.
Thời gian đầu vô cùng khó khăn. Một
ngày, tôi tưởng như giờ cuối cùng đã điểm. Một nhóm thanh niên thuộc phong trào
chính trị Ấn giáo đến giáo xứ gặp tôi. Họ chất vấn tôi đủ điều:
- Ông là ai mà dám ở đây? Rồi ông đến
đây để làm gì? Ông không phải dân địa phương, như thế có nghĩa ông nhận tiền
viện trợ của Anh hoặc của Mỹ!
May mắn thay, tôi nói được tiếng Hindi
địa phương. Sau khi giải thích việc đang làm, tôi kết thúc:
- Các anh có thể giết tôi, tôi sẵn sàng
chết vì Đức Chúa GIÊSU KITÔ!
Dần dần, họ dịu lại. Một thời gian sau,
khi họ thấy chúng tôi thật sự giúp dân làng, đặc biệt mở các lớp học bình dân,
thì chính những người từng dọa giết tôi, lại gửi con cái họ đến học trường
chúng tôi!
Cha Anto lấy lại bình tĩnh nhờ cầu
nguyện và suy gẫm mỗi ngày. Rồi từ sau vụ khỏi bệnh lạ lùng, uy tín của Cha
Anto càng gia tăng thêm.
Số là, một ngày kia, một dân làng bị bò
húc gãy xương sống. Họ mang người bị nạn đến xin Cha chữa, vì nghĩ Cha là thầy
thuốc. Cha Anto nói với người bệnh:
- Tôi không có thuốc, nhưng chỉ duy nhất
Đức Chúa GIÊSU KITÔ có thể chữa ông lành.
Nói xong, Cha đặt tay trên ông và sốt
sắng cầu nguyện. Bỗng chốc người bị nạn đứng lên và đi đứng như thường.
Từ đó, Cha Anto điều động một nhóm cầu
nguyện và tiếp tục làm việc tông đồ trong an bình, không còn bị quấy nhiễu nữa!
Làm thợ thì đáng được trả công
Khi ấy, Chúa Giêsu chỉ định bảy mươi hai môn đệ khác, và sai các ông cứ từng hai người một đi trước, vào tất cả các thành, các nơi mà chính Người sẽ đến. Người bảo các ông:
“Lúa chín đầy đồng
mà thợ gặt lại ít. Vậy anh em hãy xin chủ mùa gặt
sai thợ ra gặt lúa về. Anh em hãy ra đi. Này Thầy sai anh em đi như
chiên con đi vào giữa bầy sói. Đừng mang theo túi tiền, bao bị, giày dép. Cũng
đừng chào hỏi ai dọc đường. Vào bất cứ nhà nào, trước tiên hãy nói: "Bình
an cho nhà này! " Nếu ở đó, có ai đáng hưởng bình an, thì bình an của anh
em sẽ ở lại với người ấy; bằng không thì bình an đó sẽ trở lại với anh em. Hãy ở
lại nhà ấy, và người ta cho ăn uống thức gì, thì anh em dùng thức đó, vì làm thợ
thì đáng được trả công. Đừng đi hết nhà nọ đến nhà kia. Vào bất cứ thành nào mà
được người ta tiếp đón, thì cứ ăn những gì người ta dọn cho anh em. Hãy chữa những
người đau yếu trong thành, và nói với họ: "Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần
các ông." (Lc 10,1-9)
Thứ Sáu, 25 tháng 1, 2013
Thánh Phaolô trở lại
"Cứ đi, vì người ấy là lợi khí Ta chọn để mang danh Ta đến trước mặt
các dân ngoại, các vua chúa và con cái Ít-ra-en. Thật vậy, chính Ta sẽ chỉ cho
người ấy thấy tất cả những đau khổ người ấy phải chịu vì danh Ta." (Cv 9,15-16)
"Anh em hãy đi
khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo.” (Mc 16,15)
Thứ Năm, 24 tháng 1, 2013
Con Thiên Chúa
Khi ấy, Đức
Giê-su cùng với các môn đệ lui về
phía Biển Hồ. Từ miền Ga-li-lê, người ta lũ lượt đi theo Người. Và từ miền
Giu-đê, từ Giê-ru-sa-lem, từ xứ I-đu-mê, từ vùng bên kia sông Gio-đan và vùng
phụ cận hai thành Tia và Xi-đôn, người ta lũ lượt đến với Người, vì nghe biết
những gì Người đã làm. Người đã bảo các môn đệ dành sẵn cho Người một chiếc
thuyền nhỏ, để khỏi bị đám đông chen lấn. Quả thế, Người đã chữa lành nhiều bệnh
nhân, khiến tất cả những ai có bệnh cũng đổ xô đến để sờ vào Người. Còn các thần
ô uế, hễ thấy Đức Giê-su, thì phủ phục trước mặt Người và kêu lên: "Ông là
Con Thiên Chúa! " Nhưng Người cấm ngặt chúng không được tiết lộ Người là
Thánh
Phanxicô Salêsiô, giám mục, tiến sĩ Hội Thánh
Thánh
nhân sinh tại Xavoa năm 1567. Được chọn làm giám mục Geneve, sáng lập dòng các
nữ tu thăm viếng cùng với chị Phanxica đờ Săngtan. Thánh nhân qua đời ở Lyon
ngày 28 tháng 12 năm 1622.
Thứ Ba, 4 tháng 12, 2012
Ngày Chúa đến
"Sẽ có những điềm lạ trên mặt trời, mặt trăng và
các vì sao. Dưới đất, muôn dân sẽ lo lắng hoang mang trước cảnh biển gào sóng
thét. Người ta sợ đến hồn xiêu phách lạc, chờ những gì sắp giáng xuống địa cầu,
vì các quyền lực trên trời sẽ bị lay chuyển. Bấy giờ thiên hạ sẽ thấy Con Người
đầy quyền năng và vinh quang ngự trong đám mây mà đến. Khi những biến cố ấy bắt
đầu xảy ra, anh em hãy đứng thẳng và ngẩng đầu lên, vì anh em sắp được cứu chuộc."
(Lc 21,25-28)
Chúa nhật thứ I mùa vọng
Mùa Vọng nhắc ta lần đến đầu tiên của Con Chúa, và nhắc ta
chuẩn bị lần đến cuối cùng của Ngài. Giữa hai lần ấy, có biết bao lần Ngài bất ngờ đến. Xin cho tôi
luôn đứng thẳng, cao đầu ra đón Ngài, chẳng chịu bỏ lỡ một lần cùng Ngài gặp gỡ.
Cầu nguyện:
Lạy Chúa, con thường thấy mình không có giờ cầu
nguyện, không có giờ đi vào sa mạc để ở bên Chúa và trò chuyện với Ngài. Nhưng
thật ra sa mạc ở sát bên con. Chỉ cần một chút cố gắng của tình yêu là con có
thể tạo ra sa mạc.
Mỗi ngày có biết bao giây phút có thể gặp Chúa mà
con đã bỏ mất:
Khi
chờ một người bạn, chờ đèn xanh ở ngã tư, chờ món hàng đang được gói. Khi lên
cầu thang, khi đến nơi làm việc, khi kẹt xe, khi cúp điện bất ngờ.
Thay
vì bực bội hay nóng ruột con lại thấy mình sống an bình trong sự hiện diện của
Chúa.
Lạy Chúa, những sa mạc ngắn ngủi hằng ngày giúp
con tỉnh thức để nhạy cảm với ý Chúa. Xin cho con yêu mến Chúa hơn để tìm ra những sa
mạc mới và vui vẻ bước vào.
(gợi hứng từ Madeleine
Delbrêl)
Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu,
SJ
Sự mặc khải
Ngay giờ ấy, được Thánh Thần tác động, Đức Giê-su hớn hở vui mừng và nói:
"Lạy Cha là Chúa Tể trời đất, con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu kín
không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mặc khải cho
những người bé mọn. Vâng, lạy Cha, vì đó là điều đẹp ý Cha. (Lc 10,21)
Thứ Hai, 3 tháng 12, 2012
Thánh Phanxicô Xaviê
mà chúng ta mừng kính hôm nay là một gương mẫu tuyệt vời. Thánh Phanxicô Xaviê
đã đưa ra câu trả lời của đức tin, vì đức tin ấy sẵn sàng giã từ môi trường đại
học, với một nghề nghiệp tươi sáng cho chàng thanh niên lúc bấy giờ, để dấn
thân đi đến những miền đất rất xa xôi (trong sử sách ghi lại: Thánh Phanxicô
Xaviê phải mất một năm một tháng để đi từ châu âu sang đến Ấn Độ), Ngài còn tha
thiết đi tới Trung Hoa Lục Địa. câu trả lời đức tin của Thánh Phanxicô Xaviê đã
đưa Ngài trở thành người loan báo Tin Mừng bằng cả con người, cả cuộc đời của
mình. Phải nói là phép lạ, trong sử sách ghi lại: Ngài rửa tội cho cả chục ngàn
người mà rất nhanh. Ngài loan báo Tin Mừng bằng tất cả tâm hồn, bằng tất cả đời
sống của mình. Không ai có thể phủ nhận được sự nhiệt tâm, sự hiến dâng trọn vẹn
mà Ngài hiến dâng cho Chúa và cho các linh hồn, Ngài là mẫu gương tuyệt vời cho
chúng ta.
Thứ Sáu, 30 tháng 11, 2012
Tỉnh thức và cầu nguyện
"Vậy anh em phải đề phòng, chớ để lòng mình ra nặng
nề vì chè chén say sưa, lo lắng sự đời, kẻo Ngày ấy như một chiếc lưới bất thần
chụp xuống đầu anh em, vì Ngày ấy sẽ ập xuống trên mọi dân cư khắp mặt đất. Vậy
anh em hãy tỉnh thức và cầu nguyện luôn, hầu đủ sức thoát khỏi mọi điều sắp xảy
đến và đứng vững trước mặt Con Người." (Lc 21,34-36)
Thánh An-rê tông đồ
Người đang đi dọc theo biển hồ Ga-li-lê, thì thấy hai
anh em kia, là ông Si-môn, cũng gọi là Phê-rô, và người anh là ông An-rê, đang
quăng chài xuống biển, vì các ông làm nghề đánh cá. Người bảo các ông:
"Các anh hãy theo tôi, tôi sẽ làm cho các anh thành những kẻ lưới người
như lưới cá." Lập tức hai ông bỏ chài lưới mà đi theo Người. (Mt 4, 18-20)
Anrê theo tiếng Hy Lạp có ý nghĩa là: trượng phu và
thanh nhã. Ngài được nhắc tới nhiều lần trong Tân Ước. Thánh Gioan Baotixita đã
giới thiệu Anrê và môn đệ khác với Chúa Giêsu. Ðáp lại lời gọi của Chúa: “Hãy
theo Ta, Ta sẽ làm cho các ngươi thành những kẻ chài lưới người”, Anrê và Phêrô
đã bỏ mọi sự mà theo Chúa. Khi Chúa Giêsu ở đền thờ ra đi và nói tiên tri về sự
tàn phá thành Thánh, Anrê đã hỏi Chúa xem khi nào việc đó sẽ xảy ra.
Sau khi Chúa sống lại, Anrê và các tông đồ khác lên
đường rao giảng Tin Mừng. Chúng ta không có được những sử liệu về cuộc hành
trình truyền giáo của ngài, trừ một một đoạn văn sau đây đề cập đến cuộc tử đạo
của ngài: “Quan lãnh sự Akai bắt trói thánh nhân vào cột đá để cho chết dần
chết mòn. Dân chúng nhất quyết can thiệp để xin quan tha cho ngài, nhưng thánh
nhân muốn vui lòng chấp nhận cái chết anh dũng vì danh Chúa để nên giống như
Chúa”. Năm 357, giáo chủ thành Alexandrie đem hài cốt ngài về Constantinople.
Nhiều nhà thờ ở La Mã và bên Anh đã được xây cất dâng
kính thánh Anrê, Giáo Hội đã ghi tên ngài vào “Lời nguyện hiệp nhất” trong
thánh lễ.
Châu Kiến Long
Thứ Ba, 27 tháng 11, 2012
Ngày cuối cùng
Nhân có mấy người nói về Đền Thờ được trang hoàng bằng những viên đá đẹp và
những đồ dâng cúng, Đức Giê-su bảo: "Những gì anh em đang chiêm ngưỡng đó
sẽ có ngày bị tàn phá hết, không còn tảng đá nào trên tảng đá nào." Họ hỏi
Người: "Thưa Thầy, vậy bao giờ các sự việc đó sẽ xảy ra, và khi sắp xảy
ra, thì có điềm gì báo trước? "
Đức Giê-su đáp: "Anh em hãy coi chừng kẻo bị lừa gạt, vì sẽ có nhiều
người mạo danh Thầy đến nói rằng: "Chính ta đây", và: "Thời kỳ
đã đến gần"; anh em chớ có theo họ. Khi anh em nghe có chiến tranh, loạn
lạc, thì đừng sợ hãi. Vì những việc đó phải xảy ra trước, nhưng chưa phải là
chung cục ngay đâu". Rồi Người nói tiếp: "Dân này sẽ nổi dậy chống
dân kia, nước này chống nước nọ. Sẽ có những trận động đất lớn, và nhiều nơi sẽ
có ôn dịch và đói kém; sẽ có những hiện tượng kinh khủng và điềm lạ lớn lao từ
trời xuất hiện.
(Lc 21,5-11)
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
.jpg)













