Tìm kiếm Blog này

Thứ Tư, 12 tháng 6, 2013

Học viện Liên Dòng Nữ: Bế giảng năm học 2012-2013


WGPSG -- Hơn 200 nữ tu, học viên học viện Liên Dòng Nữ, đến từ các nhà dòng nữ trên toàn quốc đã tham dự Thánh lễ tạ ơn, bế giảng năm học 2012 – 2013 của Học viện Thần học Phaolô Nguyễn Văn Bình Liên Dòng Nữ, do Đức cha Phêrô Nguyễn Văn Khảm, Giám mục phụ tá Tổng Giáo phận TP.HCM (TGP) chủ sự vào lúc 08g30 ngày 24/5/2013, tại hội trường Gioan Baotixita Phạm Minh Mẫn, Trung tâm Mục vụ TGP (TTMV). Tham dự Thánh lễ còn có quý bề trên, quý giảng viên của học viện.
Đặc biệt, hôm nay, đánh dấu ngày được sai đi của 49 học viên năm thứ III (2010-2013), khoá 14, tốt nghiệp Cử nhân Thần học. Trong niềm tri ân cảm mến, chúng ta nguyện xin Chúa luôn đồng hành với quý chị trên hành trình sắp tới.
Dẫn vào Thánh lễ, Đức cha kêu gọi cầu nguyện cho những nhà đào tạo và cho những chị em đã tốt nghiệp: Thiên Chúa là cội nguồn của mọi ơn huệ, nhưng Người lại ban những ân huệ đó cho chúng ta qua những trung gian, cách riêng là những nhà đào tạo. Vì thế, đây là dịp để bày tỏ lòng biết ơn đối với những người Chúa đã sai đến để giúp đỡ chúng ta, và cầu nguyện cho họ. Đồng thời, đức tin không chỉ để đón nhận cho mình mà còn đón nhận là để trao ban, để loan truyền; đặc biệt là cho những chị em kết thúc những năm tháng học thần học ở đây. Chúng ta được mời gọi cầu nguyện cách riêng cho các chị trở thành những người loan truyền đức tin.
Trong chia sẻ Tin Mừng, Đức cha cho thấy đời sống hôn nhân gia đình (HNGĐ) rất đáng trân trọng. Ai trong chúng ta cũng có cha mẹ, qua cha mẹ, mình thấy sự cao cả, vẻ đẹp trân quý của đời sống HNGĐ bên cạnh biết bao nhiêu vất vả và hy sinh. Giáo hội trân trọng ơn gọi HNGĐ. Chính cuộc sống HNGĐ trở thành con đường dẫn đến sự thánh thiện.
Người nữ tu không phải là không trân trọng cái vẻ đẹp đó, nhưng nếu người nữ tu quyết định để không sống đời sống HNGĐ, mà bước vào đời sống thánh hiến là bởi vì có một tiếng gọi lớn hơn, cao hơn mà mình khám phá ra trong đức tin, nhờ ơn của Chúa.
Nói đến đời sống HNGĐ, hôn nhân được gọi là một bí tích, có nghĩa là một dấu chỉ, một khí cụ để giúp cho đôi vợ chồng Kitô hữu sống đời sống hôn nhân đúng ý Chúa muốn. Dấu chỉ này là dấu chỉ cuộc hôn nhân giữa Chúa Kitô và Hội Thánh. Chính từ đó, chúng ta mới hiểu được tại sao đôi vợ chồng Công giáo được mời gọi để sống trung tín, chung thuỷ, vì mình trở thành dấu chỉ trong tình yêu trung tín, chung thuỷ của Thiên Chúa đối với nhân loại. Nơi Chúa Giêsu, tình yêu ấy trở nên trọn vẹn: Thiên Chúa trung tín, chung thuỷ với loài người cho dù con người có phản bội đi nữa.
Người nữ tu không chỉ sống ý nghĩa là dấu chỉ, mà còn sống chính cái thực tại của giao ước tình yêu giữa Chúa Kitô và Hội Thánh bằng sự hiến dâng con người, cuộc đời của mình cho Chúa Giêsu, gắn bó kết hợp với Chúa Giêsu. Cuộc hôn nhân ấy cũng phải là cuộc hôn nhân đòi hỏi sự trung tín và chung thuỷ.
Lời Chúa ngày hôm nay nhắc nhở chúng ta định hướng căn bản cho đời sống thánh hiến của người nữ tu, để mình sống giao ước tình yêu ấy với tất cả lòng tin, lòng mến, niềm cậy trông. Chính việc sống giao ước tình yêu trọn vẹn đó, mang lại cho mình bình an, niềm vui, hạnh phúc trong đời sống thánh hiến. Tình yêu ấy làm cho mình trở thành một người mẹ đem lại nhiều hoa trái thiêng liêng trong đời sống của Hội Thánh, của nhân loại.
Nghi thức tuyên hứa và sai đi
Trước khi nhận phép lành cuối lễ, Sr. Michèle Nguyễn Ngọc Sương, Giám đốc học viện, thay mặt Ban Điều hành lớp học giới thiệu với Đức cha, quý bề trên 49 học viên đã hoàn tất chương trình thần học 3 năm (2010-2013), xin Đức cha thay mặt Mẹ Hội Thánh trao giấy chứng nhận, tiếp nhận lời tuyên thệ và sai các tân cử nhân ra đi vào cánh đồng truyền giáo của Giáo hội Việt Nam.
Sau khi nghe xướng tên, từng học viên tiến lên để được Đức cha trao giấy chứng nhận tốt nghiệp. Sau đó, Đức cha thẩm vấn và nhận lời tuyên hứa của các chị và sai các chị ra đi.
Một học viên đã thay mặt học viên nói lên lời tạ ơn Thiên Chúa, tri ân Đức cha, Cha giám đốc và quý cha TTMV, các giảng viên, quý nữ tu Ban Điều hành học viện, nhân viên TTMV.
Đáp từ, Đức cha cám ơn các nữ tu vì sự hiện diện ở TTMV này, đã làm cho bầu khí vui tươi lên; đồng thời làm cho ý nghĩa, mục đích, sứ mạng của TTMV này được thể hiện một cách phong phú hơn.
Tiếng ca “Thắp sáng lên trong con tình yêu Chúa…” đã kết thúc Thánh lễ.
Tiếp theo là chương trình văn nghệ, chủ đề “Những lời tri ân” do các học viên 3 lớp thần học biểu diễn thật sống động, phong phú, hấp dẫn dành cho các học viên trước khi chia tay.

Đức Mẹ Trà Kiệu vào Nam

WGPSG -- “Hãy tạ ơn Chúa vì Chúa nhân lành, muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương”.
Hoà mình cùng niềm vui của toàn thể Giáo hội trong ngày mừng mầu nhiệm Chúa Thăng Thiên, kỷ niệm 50 năm ngày thành lập Giáo phận Đà nẵng, Đức cha Giuse Châu Ngọc Tri, Giám mục giáo phận Đà Nẵng đã chủ tế dâng Thánh lễ tạ ơn mừng trọng thể Chúa Thăng Thiên, ngày gặp gỡ con cái Mẹ Trà Kiệu Giáo phận Đà Nẵng tại miền Nam vào lúc 09g00 ngày 12/5/2013, tại giáo xứ Phú Trung, giáo hạt Tân Sơn Nhì, Tổng Giáo phận TPHCM. Đồng tế với ngài có 23 linh mục, là những người con cái của Mẹ Trà Kiệu.
Mặc dầu trời nắng nóng nhưng vì lòng yêu mến Đức Mẹ Trà Kiệu, hàng ngàn người là những tu sĩ nam nữ, ân nhân gần xa, và con cái Mẹ Trà Kiệu nhiều nơi tại miền Nam đã đến tham dự đại lễ.
Tôn vinh
Trước khi khai mạc đại lễ tôn vinh Đức Mẹ Trà Kiệu, Đức cha Giuse đã đọc lời
nguyện làm phép các tượng mới được xây dựng, đầu tiên là xông hương và rảy nước thánh tượng Đức Mẹ Trà Kiệu, và trong lúc đi cung nghinh Đức Mẹ, Đức cha Giuse đã dừng lại rảy nước thánh trên các tượng được đặt chung quanh khuôn viên thánh đường.
Đức cha tâm sự trước Đức Mẹ Trà Kiệu: Chúng con nhắc nhở nhau kỷ niệm đến biến cố lớn lao Mẹ đã thực hiện tại thánh địa Trà Kiệu, ngày 11/9/1885, Mẹ đã hiện diện cách đặc biệt để bảo vệ đức tin của đoàn con cái Mẹ đang gặp hiểm nguy. Chúng con cùng nhau dâng lên Mẹ lời tôn vinh, cùng với Mẹ khởi hành, để Mẹ đồng hành trong đời sống trần gian, giữa tất cả mọi vui buồn sướng khổ của chúng con. Với Mẹ đồng hành, chúng con luôn luôn sống bình an, vui vẻ trọn vẹn trong niềm tin của chúng con. Lạy Đức Mẹ Trà Kiệu, xin cầu cho chúng con.
Đức cha công bố khai mạc ngày đại lễ tôn vinh Đức Mẹ Trà Kiệu, và thả những quả bong bóng bay, pháo kim tuyến được bắn lên, cùng với tiếng kèn, chuông, trống và tiếng vỗ tay của hàng ngàn giáo dân vang lên làm cho ngày đại lễ thật náo nhiệt.
Tiếp theo, trước tượng Đức Mẹ Trà Kiệu tại sân nhà thờ, ba đội múa của các em thiếu nhi, thiếu nữ đoàn con Đức Mẹ Trà Kiệu Sài Gòn dâng lên Mẹ theo các chủ đề: “Vòng hoa dâng Mẹ”, “Đức Mẹ Trà Kiệu”, “Một trời hoa” đã làm cho ngày lễ thật vui tươi, hạnh phúc.
Múa dâng hoa kính Đức Mẹ xong, Đức cha Giuse chủ sự cung nghinh Đức Mẹ Trà Kiệu chung quanh nhà thờ, một cuộc rước thật long trọng, hàng ngàn người con của Mẹ tham gia. Kết thúc
cuộc rước, tượng Đức Mẹ Trà Kiệu được đặt cách trang trọng trên cung thánh để cho mọi người chiêm ngưỡng.
Một lần nữa, trước bàn thờ và tượng Đức Mẹ Trà Kiệu, các thiếu nữ con của Mẹ đã đại diện cộng đoàn, bằng điệu múa uyển chuyển, nghiêm trang, dựa theo bài ca “Hoa trắng tháng Năm” dâng lên Mẹ trong ngày đại lễ hôm nay.
Trước tượng Đức Mẹ Trà Kiệu, Đức cha Giuse đã đốt những lời khấn nguyện trong lư hương dâng lên Đức Mẹ đã kết lại phần tôn vinh Đức Mẹ Trà Kiệu.
Thánh lễ
Dẫn vào Thánh lễ, Đức cha chủ tế hướng cộng đoàn dâng Thánh lễ mừng Chúa Thăng Thiên, để cầu nguyện cho sứ vụ của Giáo hội, nhất là của Giáo hội Việt Nam, đến Giáo phận, giáo xứ và mỗi người, chúng ta đặt niềm tin vào Đức Kitô đã sống lại và thăng thiên để hăng say, mạnh dạn bước theo chân Người loan báo Tin Mừng, chuẩn bị cho quê hương nước trời, là nơi chúng ta được gặp gỡ nhau, cùng nhau gặp gỡ Đức Kitô, Chúa chúng ta, cùng với Trinh Nữ Maria.
Trong phần chia sẻ Tin Mừng, Đức cha Giuse đã cho cộng đoàn biết thêm về “quê hương”: Những người xa quê Quảng Nam, Đà Nẵng đi làm ăn sinh sống ở nơi khác tại miền Nam, cụ thể là Sài Gòn đều nhớ đến quê hương của mình. Nhưng điều quan trọng hơn, quê hương hạnh phúc, vĩnh cửu, lớn hơn trong đức tin của chúng ta, đó là “quê hương chúng ta ở trên trời, nơi Đức Kitô đang ngự bên hữu Thiên Chúa.” Điều này được xác định khi chúng ta cùng nhau cử hành mầu nhiệm lễ Chúa Giêsu lên trời: “Thầy đi để dọn chỗ cho các con, khi Thầy trở lại, thầy sẽ đem chúng con về với Thầy.”
Đức cha còn nói: Lễ Thăng Thiên luôn luôn đi với ngày Đức Kitô chuyển giao sứ vụ cho chúng ta, trước khi Chúa Giêsu về trời đã truyền lại cho các môn đệ: “Anh em hãy đi khắp nơi rao giảng Tin Mừng cho muôn dân, rửa tội cho họ.” Đức cha liên hệ đến Giáo phận Đà Nẵng, năm 1963 khi mới thành lập được trên 100.000 giáo dân, đến năm 1983 số giáo dân chỉ còn lại 39.000, do giáo dân đã đi tản mác khắp nơi làm ăn sinh sống. Nhìn vào con số, chúng ta thấy buồn, nhưng nhìn vào Lời Chúa, chúng ta phải vui mừng vì giáo dân Giáo phận Đà nẵng đã đi khắp nơi rao giảng Tin Mừng cho muôn dân. Chúng ta hãy ý thức được sứ vụ của mình, đừng cho là số phận, đổ thừa cho hoàn cảnh, đây là ơn gọi, Đức Kitô muốn mời gọi chúng ta lên đường ra đi rao giảng Tin Mừng, chúng ta phải sống làm nhân chứng đức tin, sống mạnh mẽ vào niềm tin của chúng ta, hội nhập và góp phần tích cực vào Giáo hội địa phương, để xây dựng Hội Thánh Chúa Kitô, và làm cho muôn dân trở thành môn đệ của Người. Đây là hạnh phúc và là vinh dự cho mỗi người chúng ta.
Đức cha nói về người mẹ: Thật tình cờ, hôm nay là ngày thật đẹp, “Ngày Của Mẹ”, chúng ta chọn làm ngày gặp gỡ của con cái Mẹ Trà Kiệu. Thật là hạnh phúc khi được làm mẹ, là hồng ân Thiên Chúa ban cho chúng ta qua tình yêu hôn nhân và gia đình. Xin chúc mừng các bà mẹ, và nguyện xin cho quý bà sống trọn vẹn ý nghĩa lớn lao này, đó là mẹ ở trần gian. Chúng ta còn có người mẹ vĩ đại hơn: “Đức Trinh Nữ Maria, Mẹ Thiên Chúa, Mẹ Chúa Giêsu, Mẹ Hội Thánh, và là Mẹ mỗi người chúng ta”, một người mẹ đầy lòng nhân ái, luôn quan tâm, chăm sóc đến mỗi người chúng ta. Chúng ta, mỗi người, mỗi gia đình hãy đến và cầu khẩn với Mẹ, xin Mẹ đồng hành với chúng ta, tiếp tục ra tay bảo vệ niềm tin yếu kém của chúng ta, để chúng ta có thể được vững vàng hơn trong đời sống đức tin, vượt qua những khó khăn, thử thách, cạm bẫy đầy dẫy ngày hôm nay, mà mỗi người chúng ta đang phải đương đầu, mà nếu không có Mẹ chở che, làm sao chúng ta có thể đứng vững được.
Ngày Đại lễ đã diễn ra thật nhộn nhịp, hoành tráng, con cái Mẹ Trà Kiệu sinh sống tại miền Nam rất hân hoan, vui mừng, và niềm vui được dâng cao gấp bội khi Đức Hồng y Gioan Baotixita Phạm Minh Mẫn, Tổng Giám mục Tổng giáo phận TPHCM, chủ tịch Uỷ ban Di Dân thuộc Hội đồng Giám mục Việt Nam đến thăm và nói chuyện.
ĐHY nói: Anh chị em từ xa đến đây để học tập, làm ăn sinh sống, gặp nhiều khó khăn, do cạnh tranh việc làm, thiếu phúc lợi xã hội, lại sống trong một xã hội có khuynh hướng tự do li dị, phá thai, đồng tính. Đây là những thách đố rất lớn cho đời sống làm người Việt Nam theo truyền thống văn hoá, và đời sống người Công giáo, nó phục vụ cho bản năng con người, không đáp ứng được đời sống tâm linh của chúng ta. Anh chị em quy tụ lại đây, có sự hiện diện của Đức cha để củng cố niềm tin, anh em hãy mở rộng lòng tin của mình để đón nhận lòng thương xót của Chúa, sống đáp lại lòng thương xót đó bằng lấy tình yêu của mình để đáp trả tình yêu đối với Chúa, Giáo hội, mọi người, đặc biệt là với nhau. Với sức mạnh tình yêu, lòng thương xót của Chúa, chúng ta mới có sức mạnh vượt qua được những thách đố cả về đời sống vật chất lẫn đức tin.
ĐHY nói lên niềm vui khi thấy có sự liên kết của anh chị em xa quê, nâng đỡ, giúp nhau vượt qua những khó khăn, thách đố trong đời sống xã hội. ĐHY mong rằng thỉnh thoảng có sự tập họp như thế này, có sự hiện diện của Đức cha, các cha lo mục vụ di dân, giúp anh chị em củng cố lòng tin, để vượt thắng những khó khăn thách đố, luôn luôn tiến bước theo Chúa và với sự cầu bầu của Đức Mẹ để đi đến sự sống thực sự dồi dào về đời sống vật chất, tâm linh, tinh thần, đức tin của chúng ta. Mong gặp lại anh chị em.
Đáp từ, Đức cha Giuse cám ơn ĐHY, quý cha TGPTPHCM và ước mong được hưởng sự tiếp tục chăm sóc của ĐHY, quý cha để chúng con là những người xa quê hương nhanh chóng được hội nhập, để được hưởng những lợi ích của Giáo hội, được cùng với ĐHY và anh chị em TGP chung tay góp sức xây dựng Giáo hội Chúa vững mạnh.
Đức cha nhắc lại: Anh chị em gốc Đà nẵng đi xa quê không phải chỉ là di dân, mà còn là lãnh sứ vụ của Chúa ra đi khắp nơi rao giảng Tin Mừng cho muôn dân, đây là sứ vụ cao quý mà mỗi người chúng con lãnh nhận và ra sức thi hành trong cuộc sống. Cám ơn tất cả anh chị em.
Liên hoan văn nghệ và bữa cơm huynh đệ đã khép lại ngày gặp gỡ con cái Mẹ Trà Kiệu Giáo phận Đà nẵng tại miền Nam.













Lời hay ý đẹp













Thứ Năm, 6 tháng 6, 2013

Thánh Bônifatiô, giám mục, tử đạo

Có những người thuộc nhóm Xa-đốc đến gặp Đức Giê-su. Nhóm này chủ trương không có sự sống lại. Họ hỏi Người: "Thưa Thầy, ông Mô-sê có viết cho chúng ta rằng: "Nếu anh hay em của người nào chết đi, để lại vợ mà không để lại con, thì người ấy phải lấy nàng, để sinh con nối dòng cho anh hay em mình." Vậy có bảy anh em trai. Người thứ nhất lấy vợ, nhưng chết đi mà không để lại một đứa con nối dòng. Người thứ hai lấy bà đó, rồi cũng chết mà không để lại một đứa con nối dòng. Người thứ ba cũng vậy. Cả bảy người đều không để lại một đứa con nối dòng. Sau cùng, người đàn bà cũng chết. Trong ngày sống lại, khi họ sống lại, bà ấy sẽ là vợ của ai trong số họ? Vì bảy người đó đã lấy bà làm vợ."

Đức Giê-su nói: "Chẳng phải vì không biết Kinh Thánh và quyền năng Thiên Chúa mà các ông lầm sao? Quả vậy, khi người ta từ cõi chết sống lại, thì chẳng còn lấy vợ lấy chồng, nhưng sẽ giống như các thiên thần trên trời. Còn về vấn đề kẻ chết trỗi dậy, các ông đã không đọc trong sách Mô-sê đoạn nói về bụi gai sao? Thiên Chúa phán với ông ấy thế nào? Người phán: Ta là Thiên Chúa của Áp-ra-ham, Thiên Chúa của I-xa-ác, và Thiên Chúa của Gia-cóp. Người không phải là Thiên Chúa của kẻ chết, nhưng là của kẻ sống. Các ông lầm to! " (Mc 12, 18-27)

Lạy Chúa, nhờ ơn Chúa, thánh Bônifatiô, giám mục đã dùng lời nói mà rao giảng đức tin và lấy máu đào để minh chứng. Vì lời thánh nhân chuyển cầu, xin cho chúng con giữ vững  lòng tin, và lấy cả cuộc đời mà can đảm tuyên xưng lòng tin đó. Chúng con cầu xin, nhờ Đức Giêsu Kitô Con Chúa, là Thiên Chúa, và là Chúa chúng con,  Người hằng sống và hiển trị cùng Chúa, hợp nhất với Chúa Thánh Thần đến muôn thuở muôn đời. Amen.

Mến Chúa yêu người

Đức Giê-su trả lời: "Điều răn đứng đầu là: Nghe đây, hỡi Ít-ra-en, Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, là Đức Chúa duy nhất. Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức lực ngươi. Điều răn thứ hai là: Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình. Chẳng có điều răn nào khác lớn hơn các điều răn đó."

Thứ Ba, 4 tháng 6, 2013

Của Chúa thì trả cho Chúa

Họ cử mấy người Pha-ri-sêu và mấy người thuộc phe Hê-rô-dê đến cùng Người để Người phải lỡ lời mà mắc bẫy. Những người này đến và nói: "Thưa Thầy, chúng tôi biết Thầy là người chân thật. Thầy chẳng vị nể ai, vì Thầy không cứ bề ngoài mà đánh giá người ta, nhưng theo sự thật mà dạy đường lối của Thiên Chúa. Vậy có được phép nộp thuế cho Xê-da hay không? Chúng tôi phải nộp hay không phải nộp? " Nhưng Đức Giê-su biết họ giả hình, nên Người nói: "Tại sao các người lại thử tôi? Đem một đồng bạc cho tôi xem! " Họ liền đưa cho Người. Người hỏi: "Hình và danh hiệu này là của ai đây? " Họ đáp: "Của Xê-da." Đức Giê-su bảo họ: "Của Xê-da, trả về Xê-da; của Thiên Chúa, trả về Thiên Chúa." Và họ hết sức ngạc nhiên về Người. (Mc 12, 13-17)

Thánh Carolô Lwanga và các bạn, tử đạo

Đức Giê-su bắt đầu dùng dụ ngôn mà nói với họ rằng: "Có người kia trồng được một vườn nho; ông rào giậu chung quanh, đào bồn đạp nho và xây một tháp canh. Ông cho tá điền canh tác, rồi trẩy đi xa. Đến mùa, ông sai một đầy tớ đến gặp các tá điền để thu hoa lợi vườn nho mà họ phải nộp. Nhưng họ bắt người đầy tớ, đánh đập và đuổi về tay không. Ông lại sai một đầy tớ khác đến với họ. Họ đánh vào đầu anh ta và hạ nhục. Ông sai một người khác nữa, họ cũng giết luôn. Rồi ông lại sai nhiều người khác: kẻ thì họ đánh, người thì họ giết. Ông chỉ còn một người nữa là người con yêu dấu: người này là người cuối cùng ông sai đến gặp họ; ông nói: "Chúng sẽ nể con ta." Nhưng bọn tá điền ấy bảo nhau: "Đứa thừa tự đây rồi! Nào ta giết quách nó đi, và gia tài sẽ về tay ta." Thế là họ bắt cậu, giết chết rồi quăng ra bên ngoài vườn nho. Vậy ông chủ vườn nho sẽ làm gì? Ông sẽ đến tiêu diệt các tá điền, rồi giao vườn nho cho người khác. Các ông chưa đọc câu Kinh Thánh này sao? Tảng đá thợ xây nhà loại bỏ lại trở nên đá tảng góc tường. Đó chính là công trình của Chúa, công trình kỳ diệu trước mắt chúng ta!
Họ tìm cách bắt Đức Giê-su, nhưng lại sợ dân chúng; quả vậy, họ thừa hiểu Người đã nhắm vào họ mà kể dụ ngôn ấy. Thế là họ để Người lại đó mà đi. (Mc 12,1-12)

Lạy Chúa, Chúa đã cho máu tử đạo làm nảy sinh thêm nhiều kitô hữu. Xin cho máu của Thánh Carolô Lwanga và các bạn đã tưới xuống cánh đồng Hội Thánh cũng đem lại một mùa lúa dồi dào. Chúng con cầu xin, nhờ Đức Giêsu Kitô Con Chúa, là Thiên Chúa, và là Chúa chúng con,  Người hằng sống và hiển trị cùng Chúa, hợp nhất với Chúa Thánh Thần đến muôn thuở muôn đời. Amen.

Thánh Justinô, tử đạo

Thánh Justinô, tử đạo
Đức Giê-su và các môn đệ lại vào Giê-ru-sa-lem. Người đang đi trong Đền Thờ, thì các thượng tế, kinh sư và kỳ mục đến cùng Người và hỏi: "Ông lấy quyền nào mà làm các điều ấy, hay ai đã cho ông quyền làm các điều ấy? " Đức Giê-su đáp: "Tôi chỉ xin hỏi các ông một điều thôi. Các ông trả lời đi, rồi tôi sẽ nói cho các ông biết tôi lấy quyền nào mà làm các điều ấy. Vậy, phép rửa của ông Gio-an là do Trời hay do người ta? Các ông trả lời cho tôi đi! " Họ bàn với nhau: "Nếu mình nói: "Do Trời", thì ông ấy sẽ vặn lại: "Thế sao các ông lại không tin ông ấy? Nhưng chẳng lẽ mình nói: "Do người ta"? " Họ sợ dân chúng, vì ai nấy đều cho ông Gio-an thật là một ngôn sứ. Họ mới trả lời Đức Giê-su: "Chúng tôi không biết." Đức Giê-su liền bảo họ: "Tôi cũng vậy, tôi cũng không nói cho các ông là tôi lấy quyền nào mà làm các điều ấy." (Mc 11,27-33)
Lạy Chúa, Chúa đã ban cho Thánh Justinô tử đạo ơnhiểu biết sâu xa về Đức Kitô, nhờ suy tưởng mầu nhiệm Thập Giá mà thế gian coi là điên dại. Nhờ lời thánh nhân nguyện thay cầu giúp, xincho chúng con thoát khỏi mọi tư tưởng sai lầm và cương quyết giữ vững niềm tin. Chúng con cầu xin, nhờ Đức Giêsu Kitô Con Chúa, là Thiên Chúa, và là Chúa chúng con, Người hằng sống và hiển trị cùng Chúa, hợp nhất với Chúa Thánh Thần đến muôn thuở muôn đời. Amen.
Đôi nét về Thánh Justinô
Justinô sinh ra trong một gia đình Hy Lạp tại Naplousse, trong xứ Syria Palestina.
Một lần kia, tình cờ ngài gặp một ông lão lạ mặt. Qua cuộc đàm thoại, ông lão chỉ vẽ cho ngài con đường ngay thật để tìm đến Thiên Chúa: đó là học hỏi qua Thánh Kinh. Nghiền ngẫm lời cụ già, ngài bắt đầu mở Thánh Kinh. Nhờ ơn Chúa soi sáng, ngài đã cảm phục và say mê các giá trị luân lý của đời sống Kitô giáo. Cuối cùng, ngài đã được rửa tội để lãnh nhận một đức tin như những người công giáo khác.
Tự thâm tâm, ngài nhận thấy mình có bổn phận phải rao truyền lời Chúa. Những kiến thức uyên thâm của ngài đã làm cho những người đối thoại phải đuối lý. Nổi danh nhất là cuộc đối chất với Tryphon, một học giả Do Thái. Ngài đã trưng ra tất cả bằng chứng Thánh Kinh để minh xác Chúa Giêsu là Ðấng Cứu Thế. Nhờ những buổi diễn thuyết, những cuộc đối thoại của ngài, rất nhiều người đã trở lại đạo Công Giáo.
Năm 138, vua Antonin Pieux đã mở màn một cuộc bách hại tàn khốc. Thánh Justinô đã mạnh dạn đứng ra bênh vực giáo hữu. Ngài dùng ba tấc lưỡi cố gắng đòi cho được quyền tự do tín ngưỡng. Tiến đến triều đại Marc Aurèle, cuộc bách hại càng gắt gao hơn. Với ý chí sắt đá, ngài đã quyết bảo vệ chân lý.
Sau cùng, vì những thất bại chua cay, lương dân đã nộp ngài cùng một số bạn hữu và tống giam vào ngục. Khuyên nhủ ngài không được, năm 165, họ đã kết án tử hình ngài. 
Năm 1882, Ðức Giáo Hoàng Lêô XIII đã phổ biến lễ kính ngài trên toàn Giáo Hội, đặt ngài làm quan thầy các tâm hồn ngay chính.


Mình Và Máu Thánh Chúa

Đức Giêsu nói với đám đông về Nước Thiên Chúa và chữa lành những ai cần được chữa.

Ngày đã bắt đầu tàn. Nhóm Mười Hai đến bên Đức Giê-su thưa Người rằng: "Xin Thầy cho đám đông về, để họ vào các làng mạc nông trại quanh đây, tìm chỗ trọ và kiếm thức ăn, vì nơi chúng ta đang ở đây là nơi hoang vắng." Đức Giê-su bảo: "Chính anh em hãy cho họ ăn." Các ông đáp: "Chúng con chỉ có vỏn vẹn năm cái bánh và hai con cá, trừ phi chính chúng con phải đi mua thức ăn cho cả đám dân này." Quả thật có tới chừng năm ngàn đàn ông. Đức Giê-su nói với các môn đệ: "Anh em hãy bảo họ ngồi thành từng nhóm khoảng năm mươi người một." Các môn đệ làm y như vậy, và bảo mọi người ngồi xuống. Bấy giờ Đức Giê-su cầm lấy năm cái bánh và hai con cá, ngước mắt lên trời, dâng lời chúc tụng, bẻ ra và trao cho môn đệ để các ông dọn ra cho đám đông. Mọi người đều ăn, và ai nấy được no nê. Những miếng vụn còn thừa, người ta thu lại được mười hai thúng.
Lạy Chúa Giê-su, Chúa đã trối lại cho chúng con bí tích Mình Và Máu Thánh Chúa, để chúng con đời đời tưởng nhớ Chúa đã chịu khổ hình và sống lại vinh quang. Xin cho chúng con biết một niềm sùng kính mến yêu bí tích kỳ diệu này, để luôn được nghiệm thấy ơn Chúa cứu chuộc chúng con. Chúa hằng sống và hiển trị cùng ThiênChúa Cha, hợp nhất với Chúa Thánh Thần đến muôn thưở muôn đời.

Các phép lạ về Bí Tích Thánh Thể
 Prepared for Internet by Vietnamese Missionaries in Asia

Các phép lạ về Bí Tích Thánh Thể.
Ðể cho con người tin Mình và Máu Thánh là thịt và máu thật, Chúa làm nhiều phép lạ để chúng ta tin và năng đến với Phép Thánh Thể. Có nhiều phép lạ chứng minh trong Phép Thánh Thể có thật Thịt và Máu Chúa Giêsu. (Theo Jean Carroll Cruz, trong sách Eucharistic Miracles and Eucharistic Phenomena in the Lives of the Saints. Ed. Tan, Rockford, II. 1987, tr. 305, liệt kê có 32 phép lạ. Nhưng theo Jean Ladame et Richard Duvin, trong sách Les Prodioges Eucharistiques. Ed. France-Empire, Paris, 1981, tr. 258, ghi là có 59 phép lạ).
Phép lạ có thể chia làm 6 loại :
(1) Chúa Giêsu hiện ra trong Bánh Thánh, như ở Douai, Ulmes (1668), ở Bordeaux (1822)
(2) Nhờ Mình Thánh Chúa, bệnh nhân được khỏi bệnh một cách lạ lùng: người câm ở La Rochelle (1461), Anne La Fosse (1725) và ở Lộ Ðức.
(3) Nhờ Thánh Thể đã xảy ra nhiều hiện tượng lạ, như: dòng cuồng lưu bị chận đứng (1630), Lửa đang cháy bị dập tắt (1631).
(4) Nhờ Thánh Thể, nhiều tâm hồn được hoán cải: vua Abu Zeyt ở Caravaca (1232), Thánh Antôn, người rối đạo và con lừa, quận công Brunswick (1651).
(5) Thánh Thể giải thoát những hành động phạm thánh (La Haye, Hòa Lan, 1412)
(6) Bánh và rượu trở thành Thịt và Máu Thánh (Bolsene (1263), Lanciano (750)
Dưới đây xin ghi lại một số phép lạ.
1. Mình Thánh hiện hình như một em bé xinh đẹp
Trong tiểu sử thánh Louis IX (1214-1270) vua nước Pháp có ghi: Một linh mục đang làm lễ trong nhà nguyện của hoàng gia. Bỗng cha xuất thần vào lúc truyền phép. Người ta thấy trên tay ngài có một em bé đẹp tuyệt trần. Người ta chạy đi báo cho vua hay. Vua trả lời: ''Ta tin thật Chúa Giêsu hiện diện trong bí tích Thánh Thể. Ta không cần đến xem. Ta tin Ngài ở trong đó hơn ta thấy Ngài. Do đó Ta không đi xem kẻo mất công phúc đức tin của Ta.'' (LC. số 214, 7-2000, tr. 8)
2. Máu Thánh chảy ướt bàn thờ
Tại Ý, năm 1263, thành Bolsène, trong nhà thờ Sainte Catherine, một linh mục sau khi đọc lời truyền phép đã nghi ngờ về bánh và rượu trở thành Máu và Thịt Chúa Giêsu. Tức thì Máu Thánh chảy đẫm khăn thánh và khăn bàn thờ. Ðức Giáo Hoàng nghe tin này, bèn ra lệnh đem khăn về để tạm tại nhà thờ Orviette. Sau xây nhà thờ rộng rãi để kính khăn thánh này. Ngày 8-9-1264, Ðức Giáo Hoàng Urbano IV (1262-1268) đã ban hành tự sắc lệnh Transiturus, thành lập lễ kính Mình Thánh Chúa Giêsu, cử hành vào sau tuần 8 ngày của lễ Hiện Xuống. Thánh Thomas Aquino đã sáng tác nhiều bài hát vào dịp lễ này: Lauda sion, Pange lingua, Adoro Te, và các kinh: Sacris Solemniis, Verbum Supernum... dịp lễ này có kiệu Mình Thánh Chúa ra đường phố. (Thiên Hương. NKÐP, số 179, 6-6-1912, tr. 338- 342)
3. Mình Thánh bay thoát khỏi tay ăn trộm
Ðời vua Philippe de Hardi (1362-1404) của nước Pháp, một tên ăn trộm vào nhà thờ Saint Denis, lấy chén thánh đựng Mình Thánh Chúa định đem ra ngoài đồng trút Mình Thánh xuống rồi đem chén thánh đi bán. Nhưng Mình Thánh không rớt xuống mà lại bay chung quanh trên đầu tên ăn trộm. Thấy vậy người ta bắt nó nộp cho quan và báo cho cha sở. Cha Mattheu de Vendôme báo ngay và kêu gọi Ðức Cha, các linh mục tu sỹ đến cầu kinh và hát thánh vịnh. Trước sự chứng kiến của đông người, tự nhiên Mình Thánh từ trên không từ từ hạ xuống tay cha sở họ Saint Gervais. Ngày nay, hằng năm, tại nhà thờ Saint Gervais vẫn hát lễ trọng vào Chúa nhật đầu tháng 9 để kỷ niệm phép lạ này. (Bđd)
4. Mình Thánh chảy máu khi bị xúc phạm
Thời vua Philippe le Bel cai trị nước Pháp (1285-1314), năm 1290, có một bà nghèo mà đạo đức tốt. Bà phải đem cầm chiếc áo cho một người Do Thái. Ðến gần lễ Phục Sinh bà đến mượn lại chiếc áo đi dự lễ như người ta. Người chủ cho thuê đồng ý trả lại chiếc áo không lấy tiền vốn và lời với điều kiện buộc bà là chịu lễ xong phải nhả Mình Thánh ra và đem về cho anh ta. Bà bắt chước Giuđa bán Chúa Giêsu. Ép buộc nghe lời, bà nhả Mình Thánh vào khăn đem về cho tên kia. Nó để Mình Thánh trên bàn lấy dao nhọn đâm nhiều lát. Máu trong Mình Thánh chảy ra. Vợ nó cảm động nhưng nó vẫn chai đá, lấy búa và đinh đóng đinh Chúa Giêsu. Máu Chúa tiếp tục chảy lai láng. Nó đem Mình Thánh vào lửa đốt, song Mình Thánh bay lên khỏi lửa. Nó lại lấy Mình Thánh bỏ vào chảo nước sôi, nước trong chảo trở ra đỏ như máu và Mình Thánh bay lên cao biến thành hình Chúa Giêsu Chịu Nạn. Khi thấy dân chúng còn kéo nhau đến nhà thờ, thì đứa con của anh Do Thái chạy lại báo cho giáo dân hay là ''ba tôi đã giết Chúa của qúi vị rồi''. Nghe vậy, một bà giả bộ vào nhà nó xin lửa, thì bà thấy mọi sự y như vậy và thấy Ảnh Chuộc Tội còn trên không. Rồi Ảnh này biến thành bánh trắng như trước và đến ngự vào chiếc hộp nhỏ bà đang có đựng trong tay. Bà này đã đem nộp hộp có Mình Thánh cho cha sở Saint Jean en Grève để thờ kính trong nhà thờ cho tới khi chiến tranh tràn tới. Ðức Giám Mục Paris gọi anh Do Thái kia lại khuyên ăn năn trở lại, nhưng nó không chịu, ngài mới trao nộp cho quan. Quan bèn cho thiêu sống. Vợ con và một số bạn bè đã trở lại. Còn khu nhà đó đã phá đi và xây một nhà thờ. (Bđd).
5. Em bé vừa chịu Mình Thánh Chúa không bị cháy
Trước thời Thánh Giáo Hoàng Pio X, trẻ em chưa được rước lễ. Tại Constantinople, thủ đô La Mã cũ, vào thời giám mục Mennas, người ta có thói quen sau thánh lễ nếu còn dư Mình Thánh thì kêu và đem phát cho con nít, hay học trò nhỏ. Có một đứa trẻ Do Thái cũng đến rước Mình Thánh như trẻ khác. Khi em này về nhà, cha mẹ nó hỏi tại sao về trễ. Nó thật thà thưa vì ở lại rước lễ. Cha nó làm nghề nấu chế chai lọ thủy tinh, nghe vậy tức quá bèn bắt nó quăng luôn vào lò đang nấu thủy tinh. Người vợ đi đâu về nhà không hay câu chuyện, và thấy mất con, khóc lóc đi tìm con khắp nơi, suốt ba ngày mà không thấy. Em nhỏ trong lò thấy mẹ khóc thảm thiết, liền trả lời vọng ra là mình đang ở trong lò. Người ta đến cạy mở lò và đem em nhỏ ra. Nó còn sống, khỏe mạnh, tươi cười bước ra khỏi lò. Hỏi nó, nó cho hay có một bà sang trọng vào trong lò đem nước tưới lửa và đem đồ ăn nuôi nó sống. Cả thành đều hay tin này và cho đó là phép lạ. Hai mẹ con kia xin theo đạo. Nhưng người cha chấp nê không chịu hối cải, nên bị hoàng đế Justinien đóng đinh trên thập ác. (Bđd)
6. Tội bất kính với Mình Thánh
Năm 1277, cha xứ ở Maestrich, nước Pays-Bas đem Mình Thánh cho kẻ liệt, đi ngang qua cầu sông Meuse, gặp lũ trẻ đang nô giỡn nhảy múa trên cầu, mà không có đứa nào qùi lạy hay tỏ vẻ cung kính. Khi cha vừa đi qua khỏi cầu, tự nhiên cầu lún xuống xập ngay, làm đông trẻ em trên cầu chết hết. Ðược biết xưa kia, mỗi khi linh mục đem Mình Thánh cho kẻ liệt, thường có vài giáo dân đi theo, như đám rước nhỏ. Ðể ai thấy mà tôn kính.
7. Trong hỏa hoạn Mình Thánh không bị cháy
Năm 1608, trong nhà dòng Faverney, tại Besancon, ngày lễ Hiện Xuống có chầu Mình Thánh Chúa trọng thể. Trên bàn thờ trưng bông hoa, đèn nến thật nhiều. Vô ý, đèn cháy lan xuống khăn bàn thờ và cả nhà tạm và bàn thờ, thành đám cháy bùng lên. Trong khi lửa bốc cháy ngùn ngụt, Mình Thánh đựng trong hào quang cứ bay lên lơ lửng, trọn một ngày một đêm, không cần vật gì đỡ cả. Qua ngày thứ ba, người ta làm một bàn thờ khác thay bàn thờ đã cháy, và trong khi thánh lễ khác được cử hành, thì hào quang từ từ đặt xuống bàn thờ. Giữa bao nhiêu người chứng kiến hát kinh chúc tụng. (Bđd)
8. Bánh rượu trở thành Thịt Máu Thánh
Ðây là phép lạ cổ kính nhất, đã được Tòa Thánh cho xét nghiệm 5 lần, và ngày nay Thánh Tích vẫn còn trưng bày, được rất đông khách hành hương khắp nơi kính viếng.
Trình thuật phép lạ:
Phép Lạ Thánh Thể tại Lanciano

Vào năm 750, thế kỷ thứ 8, tại Lanciano, nước Ý, trong đan viện thánh Legonziano, có một linh mục dòng Basilio, nay gọi là tu viện thánh Phanxiô, đức tin lung lay không vững chắc. Ngài giỏi về khoa học, mà dốt về khoa Thiên Chúa học. Càng ngày đan sỹ càng nghi ngờ trong bánh rượu được thánh hiến có thực Mình và Máu Chúa Giêsu không. Cha này liên tục cầu xin Chúa cho mình hết nghi ngờ này. Chúa nhân từ nâng đỡ người con đang bị mây mờ che phủ. Một hôm, trong khi dâng lễ, đan sỹ còn đắm chìm trong sự sai lầm của mình, sau khi đọc lời truyền phép, cha bối rối, bàng hoàng vì phép lạ tỏ tường, cha thấy ngay trước mặt: bánh trở thành Thịt và rượu trở thành Máu. Từ sợ hãi cha đi đến hài lòng về tinh thần tỏ rõ trên đôi mắt và tâm hồn. Với nét mặt vui tươi, mắt ngấn lệ, cha quay nói với giáo dân và những người có mặt: Hỡi những người đang tham dự chung quanh đây thật có phúc. Vì Chúa đã tỏ hiện trong bí tích Cực Thánh và trở nên hữu hình ngay dưới mắt anh em, để phá vỡ sự cứng lòng chai đá của tôi. Xin anh em tiến đến gần mà chiêm ngắm. Chúa đã trở nên gần gũi với chúng ta. Ðây là Thịt và Máu Chúa Giêsu yêu qúi của chúng ta.
Người ta không biết rõ tên linh mục đan sỹ này. Chỉ biết ngài là linh mục thuộc đan viện nhỏ của Thánh Basilio đến Lanciano tỵ nạn, trong làn sóng di cư của các đan sỹ Ðông Phương tới nước Ý, thời vua Leone III L'Isaurico. Thời này, từ năm 726 có phong trào mạnh mẽ đập phá tượng ảnh, chống lại việc tôn kính các ảnh tượng đạo. Phong trào này buộc các đan sỹ phải lưu vong ra ngoại quốc. Dân chúng ở Lanciano dành cho nhóm đan sỹ di cư này nhà thờ nhỏ Thánh Legonziano. Tại đây, trong thánh lễ bằng tiếng Latinh các đan sỹ dùng bánh lớn tròn, khác với bánh hình vuông có men của đan sỹ Hy lạp.
Bảo tồn thánh tích:
Phép lạ này được ghi chép trên tài liệu viết trên giấy da rất cổ. Nhưng vào đầu thế kỷ 15 bị hai đan sỹ dòng Basilio lấy cắp của dòng Phanxicô. Hiện nay chỉ còn tài liệu năm 1631, ghi trên giấy da bằng tiếng Hy Lạp và Latinh về tất cả chi tiết phép lạ ở Lanciano.
Các đan sỹ Basilio giữ gìn thánh tích qúi giá cho tới năm 1176. Rồi được các đan sỹ Biển Ðức thay thế. Tới năm 1252, dòng Phanxicô nhận bảo quản cho tới ngày nay. Năm 1258, một đền thờ rộng lớn được xây bao trùm nhà thờ nhỏ thánh Legonziano. Và đem đặt thánh tích ở đây. Năm 1809, theo lệnh vua Napoléon I, bãi bỏ các dòng tu, dòng Phanxico phải rời đi và mãi tới năm 1953 mới trở lại sinh hoạt bình thường.
Trước hết Thánh tích được đặt trong một hòm bằng ngà voi và được đặt tại nguyện đường cạnh nhà thờ chính. Năm 1902 được lưu giữ đàng sau bàn thờ ở giữa cung nguyện. Bánh Thánh trở thành Thịt, như ngày nay người ta quan sát, được kính giữ trong hào quang bằng bạc, có kích thước như Mình Thánh lớn vẫn được các linh mục dùng trong Thánh Lễ. Thịt có màu hơi nâu và trở thành hồng nếu quan sát dưới ánh sáng trong. Rượu hóa thành Máu được kính giữ trong chén thánh bằng thủy tinh, họp thành 5 giọt to nhỏ khác nhau. Từ năm 1923, Thịt Thánh được trưng bày trong một hào quang, và những hột máu khô được đựng trong một chén lễ thủy tinh ở dưới chân hào quang. Trước nay, qua thời gian, các Thánh Tích được các tín hữu và khách hành hương rất mực tôn kính. Vào những dịp đặc biệt Thánh Tích được rước qua các đường phố trong thị trấn.
Khảo nghiệm kiểm chứng:

Rượu hóa thành Máu được kính giữ trong chén thánh bằng thủy tinh, họp thành 5 giọt to nhỏ khác nhau

Ðể đánh tan dư luận và hồ nghi lâu đời trong dân chúng, sau công đồng Trente (1545-1563) Tòa Thánh tỏ ra nhân nhượng hơn đối với những Thánh Tích cổ kính, nên đã 5 lần cho khảo nghiệm Thánh Tích ở Lanciano, và kết như sau:
- Năm 1574, chứng từ còn ghi lại để trong nhà nguyện bên tay phải gian chính nhà thờ. Sau mấy trăm năm, Thánh Tích được đựng trong hòm sắt: Thịt vẫn còn nguyên vẹn. Máu phân thành 5 phần không đều nhau. Khi thì 5 phần hiệp thành một cục khi thì tách rời ra.
- Năm 1637, Ðức Tổng Giám Mục Rodriguez cho cân lại máu đã đông từ lâu, trước mặt giới hữu trách và đông người. Ðược thấy trọng lượng 5 cục máu cộng lại cũng bằng từng cục. Trọng lượng 5 cục là 16, 505 grames. Nếu cân riêng từng cục, thì từng cục là: 8 gr, 2,45gr, 2,85 gr, 2,05 gr và 1,15 gr. Cần thêm vào 5 gr bụi máu.
- Năm 1770 và 1886, có cuộc tranh luận về sự biến thể từ bánh ruợu hóa ra Thánh Thể chất (la transsubstantiation) qua trọng lượng như cân đo ở trên. Chúa muốn chứng tỏ dấu hiệu mới sự hiện diện của Ngài trong Mầu Nhiệm Thánh Thể. Tức là trong mỗi giọt rượu và mẩu bánh được thánh hiến có sự hiện diện thực sự của toàn thể Mình và Máu Thánh Chúa Giêsu.
- Năm 1970, sau công đồng Vatican 2 (1962-1965) dòng Phanxico đã được phép của Tòa Thánh quyết định để cho khoa học hiện đại nghiên cứu Thánh Tích và trao công việc cho nhóm giáo sư Odoardo Linoli, thuộc đại học Siena. Ngày 18-11-1970, giáo sư Linoli lấy một phần Thánh Tích phân tích. Phúc trình nghiên cứu được công bố vào tháng 3-1971, xác nhận: Những mảnh thịt màu nâu lấy từ hào quang Mình Thánh thực sự là thịt người, thịt cơ tim với đầy đủ yếu tố như một trái tim thực. Miếng thịt đó có hình dáng như một hốc ở giữa. Ðó là hốc của sự co rút của cơ tim. Chung quanh Thánh Tích có những lỗ nhỏ như có vết đinh thâu qua. Chứng tỏ rằng quả tim bị co lại như tim người chết. Ðược biết ngày xưa, sau khi xảy ra phép lạ, các tu sỹ đã căng và đóng bằng đinh miếng thịt ra trên miếng gỗ, nên thịt phải co lại theo mọi hướng. Cuộc nghiên cứu này còn xác quyết: Máu vàng nâu trong chén Thánh được đóng kín thuộc nhóm AB, và có khoáng chất thường có trong tim người.


Bánh Thánh trở thành Thịt, như ngày nay người ta quan sát, được kính giữ trong hào quang bằng bạc, có kích thước như Mình Thánh lớn vẫn được các linh mục dùng trong Thánh Lễ.

Sau khi nghiên cứu, giáo sư Linoli tuyên bố: Tôi không thể ngờ được trong những điều tôi phân tích đó có những chất hữu cơ cách đây 12 thế kỷ. Khoa học phải đầu hàng đứng trước sự kiện lạ lùng không thể giải thích nổi. Ông đã viết kèm theo hồ sơ phân tích, cho dòng Phanxico một câu ngắn: In principio erat Verbum et Verbum Caro factum est. (Từ đầu đã có Ngôi Lời và Ngôi Lời đã trở nên Thịt) (LC. Số 214, 7-2000, tr. 8-11).
Khi còn tại thế, Chúa làm phép lạ để làm vinh danh Thiên Chúa. Như Chúa đã nói khi chữa Lazarô sống lại (Ga. 11,4), người mù từ bẩm sinh được khỏi (Ga 9, 2-3). Phép lạ Thánh Thể cũng vậy. Thánh Thể là mầu nhiệm. Chỉ có con mắt đức tin mới cảm nhận được. Hành hương để có dịp chứng kiến phép lạ Thánh Thể là để xin Chúa tăng thêm đức tin với lòng mến yêu. Như Thánh Phêrô chúc ''Tuy không thấy Ngài, anh em vẫn yêu mến. Tuy chưa giáp mặt mà lòng vẫn kính tin. Vì vậy, anh em được chan chứa niềm vui khôn tả, rực rỡ vinh quang, bởi đã nhận được thành quả đức tin, là ơn cứu độ con người.'' (1Pr. 1,8)
Ít nhất một tuần một lần, chúng ta tham dự thánh lễ và chịu MìnhThánh Chúa thật sốt sắng. Ðể Chúa ở mãi với chúng ta, làm của nuôi cả hồn lẫn xác.
9. Không ăn vẫn sống
Thánh Nikolas de Flue có tên gọi thân mật là Bruder Klaus (1417-1487), bổn mạng nước Thụy Sỹ, trước khi qua đời 20 năm, coi như một phép lạ về Phép Thánh Thể. Trong 20 năm, Ngài đã từng sống hạnh phúc trong bậc gia đình với vợ và 10 con, giàu sang và chức quyền. Năm 1467, nghe tiếng Chúa gọi, với sự ưng thuận của vợ con, Ngài từ giã gia đình, bỏ hết mọi sự sống đời ẩn tu, nhiệm nhặt, chay tịnh, ở miền Alsace. Suốt 20 năm không ăn không uống gì cho đến khi qua đời.
Xưa và nay, nghe vậy người ta cho là khó tin?
Thời ấy, hay tin, dân chúng đã đến bao vây hang động Ranft, một tháng, nơi ngài tu trì, xem có ai ra vào tiếp tế gì không. Sau một tháng canh giữ, không thấy gì, người ta mới cho đó không phải là chuyện bịa đặt.
Về Giáo quyền, trước những tin ngược xuôi, đã cử Ðức Cha Thomas, giám mục phụ tá Konstanz, đến tận nơi gặp thánh nhân xem sao. Ðức Cha đem theo bánh rượu để thử nghiệm. Sau khi tìm hiểu về ơn gọi của Nicolas, Ðức Cha hỏi Nicolas: Theo Nicolas, nhân đức nào quan trọng. Nicolas thưa: đức vâng lời. Ðức Cha liền lấy bánh và rượu giấu trong cặp mang theo, bẻ làm 3, đưa cho Nicolas, và bảo: hãy vâng lời, ăn đi. Nicolas cầm một miếng bánh, bẻ làm làm 3 miếng nhỏ nữa. Lâu ngày không ăn, khó khăn lắm, Nicolas mới ăn hết phần nhỏ bánh và uống chút rượu. Nhưng vừa nuốt khỏi miệng, liền ói ra ngay. Kinh ngạc Ðức cha kính phục Nicolas không ăn không uống mà vẫn sống.
Chuyện lạ được loan ra khắp miền. Cha Oswald Ysner, linh hướng của Nicolas đã làm sáng tỏ sự việc và cho biết: từ đầu, cha đã hướng dẫn Nicolas về việc chay tịnh và xác quyết, mỗi khi sau khi chịu lễ, Nicolas cho biết trong người có sức chịu đựng mầu nhiệm lạ thường, sức mạnh tràn ngập, bùng lên trong người, như ngây ngất khiến mình dư sức chịu đựng không còn muốn ăn uống gì nữa. Sau khi thánh nhân qua đời, người ta thử nghiệm một khúc xương của ngài xem xương đó của một người có bao nhiêu tuổi. Kết quả cho biết khúc xương đó của người từ 40 đến 60 tuổi. Khoa học giảo nghiệm xác định sự biến dưỡng của Nicolas ngưng vào quãng 50 tuổi. Kết quả vừa kể, bổ túc và xác nhận Thánh Nicolas trong 20 năm cuối đời sống nhờ tác động của Phép Thánh Thể.
Năm 1481, Thụy sỹ có sự tranh chấp ranh giới quyền hành, Thánh nhân đã trở về dàn xếp, đem lại hòa bình cho cả nước. Sau đó ngài lại trở về tu xá Ranft, tiếp tục tu sống thêm 6 năm nữa mới qua đời (21-3-1487), có vợ con xung quanh. Cả Thụy sỹ, Tin Lành lẫn Công giáo đều qúi mến, tôn kính.
Ðức Giáo Hoàng Pio XII tôn phong ngài lên bậc hiển thánh ngày 15-5-1947. Và chọn ngày 25-9, làm lễ kính Thánh Nicolas. (Ðiển Ngữ Các Thánh, Lm. Hồng Phúc, tr. 222-223. Báo TTÐM. Số 301,4-2003, tr. 30)


(Thi Chương)